vanban.org

Bản án 42/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 18/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Phạt: Bị cáo Nguyễn Cao D 24 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2017. Về vật chứng: Căn cứ điều 76 BLTTHS; Điều 41 BLHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2017/HSST
Ngày: 18/09/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuyển. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Thanh.

2. Ông Phạm Văn Phong.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Mai - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Phùng Thế Phương - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 18 tháng 09 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2017/TLST-HS ngày 31 tháng 08 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2017/HSST-QĐ ngày 07 tháng 09 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Cao D, sinh năm 1986; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố H; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Vợ: Lê Thị T; Có 01 con 05 tuổi; Con ông: Nguyễn Cao A và bà Nguyễn Thị T; Anh, chị, em: có 06 người (bị cáo là con thứ 5); Tiền án, tiền sự: Không (Theo danh chỉ bản số 192 lập ngày 08/06/2017 tại Công an huyện P và lý lịch bị can phản ánh); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/06/2017, hiện đang tạm giam (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 07/06/2017, tại đường liên xã thuộc địa phận thôn H, xã H, huyện P, thành phố H, Tổ tuần tra của Công an huyện P phát hiện bắt quả tang Nguyễn Cao D về hành vi cất giấu 02 gói ma túy ở lòng bàn tay trái. Thu giữ của D 02 gói nhỏ có kích thước 1,5x1x0,5cm bên ngoài bọc giấy màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy và 01 xe mô tô BKS 30Y2-0764 cũ đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 4307/KLGĐ – PC54 ngày 14/07/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: Chất tinh bộ mầu trắng bên trong 02 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Cao D là ma túy loại Heroin có trọng lượng 0,176 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Cao D khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 07/06/2017 D điều khiển xe mô tô BKS 30Y2-0764 từ nhà đến khu vực thôn H, xã H, huyện P mục đích để mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi D có mượn điện thoại của người đi đường để gọi điện cho 01 người đàn ông ( D không quen biết người này, số điện thoại của người này D xin của bạn và ghi vào một tờ giấy) hỏi mua ma túy. D nói với người đó "Anh để cho em 200.000 đồng" (Ý D là muốn mua 200.000 đồng ma túy), người này đồng ý và bảo D đi đến cổng Trường Trung học cơ sở xã H. D đi đến cổng Trường Trung học cơ sở xã H đợi một lúc thì người đàn ông đó đi ra. D đã đưa cho người đó 200.000 đồng, người này đưa cho D 02 gói ma túy. Mua được ma túy, D cầm ở tay trái và điều khiển xe đi về. Khi D đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn H, xã H, huyện P gần đầu đường quốc lộ 429 thị bị Công an huyện P bắt quả tang.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D, do D không biết tên, tuổi địa chỉ của người này, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P không điều tra làm rõ được đối tượng nên không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý ở vụ án khác.

Đối với xe mô tô Honda WaveS BKS 30Y2 – 07xx qua điều tra xác định được chiếc xe máy là của chị Nguyễn Thị H - chị gái Dư, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện P đã trả lại cho chị H. Chị H đã nhận lại xe và không có ý kiến thắc mắc gì.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra hối hận và đề nghị Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 29/08/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố Nguyễn Cao D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 - BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Hành vi phạm tội của bị cáo là tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 nên áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt Nguyễn Cao D từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy vật chứng là ma túy.

Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Cao D thành khẩn nhận tội, hứa sẽ sửa chữa, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 07/06/2017 Nguyễn Cao D điều khiển xe mô tô đi từ nhà của mình đến cổng Trường Trung học cơ sở xã H, huyện P, thành phố H để mua ma túy đem về sử dụng. Tại đây D đã mua 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Khi D đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn H, xã H, huyện P, thành phố H thì bị Tổ công tác của Công an huyện P kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ của D 02 gói Heroin có trọng lượng 0,176 gam.

Đối chiếu quy định của pháp luật, hành vi của D đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1 Điều 194 - BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ma túy là hiểm hoạ của xã hội bởi ma túy là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh dẫn đến chết người, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức, lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để kịp thời đấu tranh phòng chống tội phạm, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã được giáo dục cải tạo, lại cố ý phạm tội nên cần phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo thấm thía với tội lỗi của mình mà trở về con đường lương thiện, đồng thời cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cũng như xét hành vi phạm tội của bị cáo là tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 nên áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, chứng tỏ sự nhân đạo của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, tuổi địa chỉ của người này, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P không điều tra làm rõ được đối tượng nên không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý ở vụ án khác.

Về vật chứng: Do cơ quan điều tra thu giữ là 02 gói Heroin là 0,176 gam là chất độc hại nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Đối với xe mô tô Honda WaveS BKS 30Y2 – 07xx qua điều tra xác định được chiếc xe máy là của chị Nguyễn Thị H – chị gái D, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P đã trả lại cho chị H. Chị H đã nhận lại xe và không có ý kiến thắc mắc gì nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự:

Phạt: Bị cáo Nguyễn Cao D 24 (Hai bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/06/2017.

2. Về vật chứng: Căn cứ điều 76 BLTTHS; Điều 41 BLHS:

Tịch thu và tiêu huỷ 0,176 gam heroin (hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/09/2017).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 BLTTHS:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ