- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Mỹ L - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ xin được phạt tiền là hình phạt chính.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2017/HSPT Ngày: 24/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Biên Hòa.
Các thẩm phán:
Ông Mã Văn Quân.
Bà Phùng Thị Ương.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Nhung - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 24 tháng 11 năm 2017, tại Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2017/HSPT ngày 25 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Hoàng Mỹ L - Sinh ngày: 04/02/1971; Nơi sinh: xã V, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 1, phố G, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Giáo viên; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ văn hóa: 12/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Ích U và bà Hoàng Thị T (đã chết). Có chồng là Nguyễn Văn A. Có 02 con: Nguyễn Văn B và Nguyễn Diệu C. Anh, chị em ruột: Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không Hiện nay bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. 2. Lê Ngọc Đ; Sinh ngày 05/3/1973 tại D, P, Y. Nơi ĐKHKTT: Thôn Y Lư, xã D, huyện T, tỉnh Y. Nơi đăng ký tạm trú: Xóm B2, xã B3, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nghề nghiệp: Thợ xây; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 07/12 phổ thông; Con ông: Lê Văn V và con bà Phạm Thị R (đã chết). Có vợ là Hoàng Thị M. Có 02 con: Lê Thị E và Lê Thị Ngọc F Anh, chị em ruột: Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không Hiện nay bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. Các bị cáo không kháng cáo: 1. Trương Văn O - Sinh ngày 30/12/1996. Trú tại: Bản S, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng. 2. Nguyễn Huy Q - Sinh ngày 04/01/1981. Nơi ĐKHKTT: Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh B. Tạm trú tại: Tổ 2, phố G, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng. 3. Bùi Văn Z - Sinh năm 1975. Nơi ĐKHKTT: Xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tạm trú tại: Xóm Vò Đáo, xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Các bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, Tòa không triệu tập.
NHẬN THẤY:
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng thì vụ án có nội dung như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/5/2017 Hoàng Mỹ L (sinh năm 1971, trú tại: Tổ 1, Phố G, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) sau khi ăn sáng xong đã đến quán nước của bà Phan Thị I ở đình chợ thị trấn N - H - Cao Bằng để uống nước. Khi đó trong quán có mấy người khách, L mang điện thoại di động Sam sung màn hình cảm ứng của mình ra mở trò chơi “Bầu cua” ra chơi rồi tự mình đoán thử được hai đến ba ván thì có một người khách nam không rõ họ tên và địa chỉ đến xem và cùng đoán thử, trong quá trình đoán thử có tranh luận với nhau thì L nói “Đặt tiền ra đoán, nếu ai thua trả tiền trà đá” người đàn ông đó đồng ý đặt cược với L từ 2.000,đ đến 5.000,đ một ván. Khi hai người đánh cược được khoảng hai đến ba ván thì có Lê Ngọc Đ (sinh năm 1973, tạm trú tại: B2, xã B3, huyện H, tỉnh Cao Bằng) đến uống nước và cùng tham gia chơi với tỷ lệ đặt cược được ba người thỏa thuận là từ 5.000,đ đến 50.000,đ được khoảng 10 phút thì người đàn ông này ra về còn L và Đ vẫn tiếp tục chơi. Khoảng 5 đến 10 phút sau thì có Bùi Văn Z (sinh năm 1975, tạm trú tại V, xã B, huyện H) cũng đến quán uống nước và tham gia ăn cược, sau Z còn có thêm hai người nữa là Nguyễn Huy Q (sinh năm 1981, tạm trú tại tổ 2, phố G, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) và Trương Văn O (sinh năm 1996, trú tại Bản S, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng) cũng đến và cùng chơi.
Cách thức để các bị cáo chơi bạc, tính toán thắng thua là dùng trò chơi “Bầu cua” đã cài đặt sẵn trên chiếc điện thoại di động Samsung của Hoàng Mỹ L. Cụ thể về trò chơi này như sau: Trò chơi bao gồm một bàn bầu cua gồm 06 ô vẽ hình 6 linh vật theo thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới là: Nai, bầu, gà, cá, cua và tôm; ngoài ra còn có 03 viên xúc xắc in hình 06 linh vật này và cái bát. Việc chơi được chia thành nhiều lượt và không giới hạn số lượng người chơi, người chơi sẽ lần lượt thay nhau làm nhà cái trong mỗi lượt chơi theo thỏa thuận. Bắt đầu mỗi lượt chơi, ba viên xúc xắc được nhà cái ấn vào chữ “bắt đầu” và kết quả của chúng được giữ kín. Người chơi đặt tiền vào một hoặc nhiều linh vật mà mình muốn, có thể đặt nhiều linh vật trong một cùng một lượt chơi và không giới hạn số tiền đặt. Khi việc đặt tiền đã xong, nhà cái ấn vào nút mở, lúc này sẽ hiện kết quả xúc xắc. Nếu trong ba viên xúc xắc xuất hiện linh vật mà người chơi đã đặt cược tiền, họ sẽ lấy lại tiền cược và nhà cái phải trả số tiền bằng với số tiền linh vật đó nhân với số tiền cược. Nếu linh vật người chơi chọn không xuất hiện, số tiền cược thuộc về nhà cái. Ngoài những người trên, lúc này tại quán của bà I còn có hai người nữa là Triệu Thị Ngọc P (trú tại khu A2, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng) và Hoàng Thu D2 (trú tại tổ 1, B, N, H) cũng đến uống nước và ngồi xem nhưng không tham gia chơi. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ, Trương Văn O, Nguyễn Huy Q, Bùi Văn Z phạm tội “Đánh bạc” Áp dụng: - Khoản 1, 3 Điều 248, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự với bị cáo Hoàng Mỹ L.
- Khoản 1, 3 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Ngọc Đ.
- Khoản 1, 3 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Văn O, Nguyễn Huy Q, Bùi Văn Z. Xử phạt: - Bị cáo Hoàng Mỹ L 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Bị cáo Lê Ngọc Đa 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Bị cáo Trương Văn O, Bùi Văn Zmỗi bị cáo là 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 22/9/2017.
- Bị cáo Nguyễn Huy Q 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 22/9/2017. Giao bị cáo Trương Văn O cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trương Văn O có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Nguyễn Huy Q cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã Y, huyện Z, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Huy Q có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Y trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Bùi Văn Z cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã D, huyện P, tỉnh Y giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Bùi Văn Z có trách nhiệm phối hợp với UBND xã D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: phạt tiền mỗi bị cáo 3.000.000,đ sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định ngày 26/09/2017 bị cáo Hoàng Mỹ L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Ngày 29/9/2017 bị cáo Lê Ngọc Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ thay đổi nội dung kháng cáo xin được Phạt tiền là hình phạt chính. Các bị cáo thừa nhận: Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự là đúng. Tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo 03 (ba) tháng tù là quá nặng đề nghị được Phạt tiền là hình phạt chính. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét chấp nhận việc thay đổi nội dung kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ. Áp dụng các điều điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo, mỗi bị cáo số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.
XÉT THẤY:
Trong thời gian từ 8 giờ 30 phút đến 09 giờ 40 phút ngày 15/5/2017 tại quán nước của bà Phan Thị I ở đình chợ thị trấn N, H, Cao Bằng các bị cáo gồm: Hoàng Mỹ L, Trương Văn O, Nguyễn Huy Q, Bùi Văn Z, Lê Ngọc Đ sử dụng trò chơi điện tử “Bầu cua” cài đặt sẵn trên điện thoại của Hoàng Mỹ L để thực hiện đặt cược, sát phạt nhau bằng tiền mặt với số tiền cược ăn thua mỗi ván từ 5.000,đ đến 50.000,đ. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đặt cược đánh bạc là 6.557.000,đ (Sáu triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời khai các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Với hành vi như trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ và các bị cáo khác về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin được phạt tiền là hình phạt chính của các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ, Hội đồng xét xử thấy: Về nhân thân các bị cáo: Bị cáo Hoàng Mỹ L, ngày 28/10/2014 Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc; bị cáo Lê Ngọc Đ, ngày 20/3/1995 Tòa án nhân dân tỉnh N (nay là Y) xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. Các tiền án trên đã được xóa án tích, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này đã đủ điều kiện để được coi là chưa bị kết án. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Mỹ L và Lê Ngọc Đ đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong vụ án này các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn (số tiền của 5 bị cáo dùng để đánh bạc 6.557.000 (sáu triệu năm trăm năm mươi bảy ngàn đồng chẵn) trong đó bị cáo L là 28.000đ (hai mươi tám ngàn đồng), bị cáo Đ là 80.000đ (tám mươi ngàn đồng). Bị cáo Hoàng Mỹ L tuy là người khởi xướng, bị cáo Đ đồng phạm nhưng đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền bị cáo Hoàng Mỹ L và Lê Ngọc Đ tham gia đánh bạc không lớn. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ Luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Hoàng Mỹ L có bố đẻ ông Hoàng Ích U được Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng Bằng “Có công với nước”, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ Luật hình sự. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ mỗi bị cáo 03 (ba) tháng tù là quá nghiêm khắc so với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Mục đích của các bị cáo tham gia đánh bạc là sát phạt nhau để trục lợi, các bị cáo đều có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo là phù hợp với khoản 1 Điều 30 Bộ luật hình sự.
Theo bản án sơ thẩm các bị cáo còn bị phạt hình phạt bổ sung là phạt tiền mỗi bị cáo 3.000.000đ. Nay xử các bị cáo hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo nữa là phù hợp với Điều 28 Bộ luật hình sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tại phiên toà, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Do vậy cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 248, điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ xin được phạt tiền là hình phạt chính. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2017/HSST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ phạm tội "Đánh bạc".
- Áp dụng:
Khoản 1 Điều 248; khoản 1 Điều 30; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Mỹ L.
Khoản 1 Điều 248; khoản 1 Điều 30, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Ngọc Đ.
- Xử phạt:
Phạt tiền bị cáo Hoàng Mỹ L số tiền 10.000.000,đ (mười triệu đồng chẵn) sung công quỹ Nhà nước. Phạt tiền bị cáo Lê Ngọc Đ số tiền 10.000.000,đ (mười triệu đồng chẵn) sung công quỹ Nhà nước. 2. Về án phí: Bị cáo Hoàng Mỹ L, Lê Ngọc Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh CB; - Phòng Hồ sơ CA tỉnh CB; - Sở Tư pháp CB - TAND huyện H; - Chi cục THA dân sự H; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu toà HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Biên Hòa |