vanban.org

Bản án 419/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/06/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

144, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 144, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 419/2024/DS-ST
Ngày 27 - 6 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Trung Kiên

2. Ông Phan Phục

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận

Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân

Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2024/TLST-DSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua bán nợ G; Trụ sở: Tòa nhà H, đường C,

Phường M, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Đoàn Anh T, sinh năm 1994,

địa chỉ liên hệ: Đường W, Phường B, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền. (Có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Tâm P, sinh năm 1995; Địa chỉ: Đường I, Phường O,

quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là

Công ty TNHH Mua bán nợ G có người đại diện hợp pháp là ông Đoàn Anh T trình bày:

Ngày 17/6/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam V (sau đây viết

tắt là Ngân hàng V) và ông Nguyễn Tâm P có ký Hợp đồng cho vay số LN2106123864442 nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay là 685.000.000 đồng, thời hạn cho vay là 96 tháng, lãi suất 9%/năm cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó định kỳ điều chỉnh 3 tháng/ lần, biên độ 4.6%/năm, mục đích vay để mua xe. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại: LUX A2.0, số khung: RPXAB1RSFMV004181, số máy: 211090059VF20SED, biển số 51H-983.79 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Tâm P đã thanh toán cho Ngân

hàng V tổng số tiền là 205.581.545 đồng, sau đó không tiếp tục thanh toán mặc dù Ngân hàng nhiều lần thông báo, nhắc nhở. Ngày 15/11/2022, Ngân hàng V đã chuyển toàn bộ dư nợ của ông Nguyễn Tâm P sang nợ quá hạn.

Ngày 30/6/2023, Ngân hàng V và Công ty TNHH Mua bán nợ G đã ký hợp

đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPN theo đó, Công ty TNHH Mua bán nợ G kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng V đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Tâm P. Tạm tính đến ngày 02/5/2024, ông Nguyễn Tâm P còn nợ Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền là 755.221.578 đồng trong đó bao gồm: nợ gốc là 564.058.851 đồng, nợ lãi là 191.162.727 đồng.

Nay Công ty TNHH Mua bán nợ G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

buộc ông Nguyễn Tâm P thanh toán cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền nợ trên và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay kể từ ngày 03/5/2024 cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp ông Nguyễn Tâm P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán nợ thì Công ty TNHH Mua bán nợ G được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại: LUX A2.0, số khung: RPXAB1RSFMV004181, số máy: 211090059VF20SED, biển số: 51H-983.79 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 để thu hồi nợ.

Bị đơn Ông Nguyễn Tâm P vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G do ông Đoàn Anh T là người đại

diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt, gửi bản trình bày ý kiến: Yêu cầu ông Nguyễn Tâm P thanh toán cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 27/6/2024 là 770.669.064, trong đó: nợ gốc là 564.058.851 đồng, nợ lãi 206.640.213 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay kể từ ngày 28/6/2024 cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp ông Nguyễn Tâm P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán nợ thì Công ty TNHH Mua bán nợ G được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại: LUX A2.0, số khung: RPXAB1RSFMV004181, số máy: 211090059VF20SED, biển số 51H-983.79 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Tâm P vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy

định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu

cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản

1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Nguyên đơn có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Bị đơn tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

- Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân

Bình: Trong vụ án này, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Đoàn Anh T là người đại diện

hợp pháp của Nguyên đơn có đơn xin mặt.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ Bị đơn

ông Nguyễn Tâm P đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn và Bị đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán số tiền gốc và lãi

tính đến ngày 27/6/2024 là 770.669.064 đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từ ngày 28/6/2024 cho đến khi Bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Hợp đồng cho vay số LN2106123864442 ngày 17/6/2021 được ký kết

giữa Ngân hàng V và ông Nguyễn Tâm P, theo đó ông Phước vay số tiền 685.000.000 đồng, mục đích vay mua xe; thời hạn vay 96 tháng; lãi suất 9%/năm cố định trong 12 tháng đầu sau đó định kỳ điều chỉnh 3 tháng/lần, biên độ 4,6% thì giữa Ngân hàng V và ông Phước đã xác lập hợp đồng vay tài sản.

Căn cứ Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 và

phụ lục hợp đồng mua bán nợ ngày 29/12/2023 được ký kết giữa Ngân hàng V và Công ty TNHH Mua bán nợ G theo đó, Công ty TNHH Mua bán nợ G kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng V đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Tâm P.

Căn cứ bảng tính gốc lãi vay do Nguyên đơn cung cấp thì Bị đơn còn nợ

Nguyên đơn số tiền gốc và lãi tính đến ngày 27/6/2024 là 770.669.064 đồng, trong đó, nợ gốc 564.058.851 đồng và nợ lãi 206.640.213 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập Bị đơn để làm

rõ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, tuy nhiên các lần triệu tập làm việc hòa giải, công khai chứng cứ phía Bị đơn đều vắng mặt, không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu khác thể hiện đã thực hiện thanh toán đầy đủ cho Nguyên đơn. Căn cứ lời trình bày của Nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng vay tài tài sản mà các bên đã ký kết do đó yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015

và các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, buộc Bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/6/2024 tổng cộng là 770.669.064 đồng.

Ngoài số tiền trên, Bị đơn còn phải thanh toán cho Nguyên đơn tiền lãi phát

sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tính từ ngày 28/6/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp Bị đơn trả hết số nợ trên thì Nguyên đơn có trách nhiệm giải chấp

tài sản bảo đảm và trả lại cho bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 và các giấy tờ liên quan theo hợp đồng thế chấp.

- Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán một lần ngay

khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

Xét Nguyên đơn yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô

nhãn hiệu VINFAST, số loại: LUX A2.0, số khung: RPXAB1RSFMV004181, số máy: 211090059VF20SED, biển số 51H-983.79 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 để thu hồi nợ trong trường hợp Bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 17/6/2021, ông Nguyễn Tâm P ký Hợp đồng thế chấp số

LN2106123864442 thế chấp tài sản là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại: LUX A2.0, số khung: RPXAB1RSFMV004181, số máy: 211090059VF20SED, biển số: 51H-983.79 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 để đảm bảo cho khoản vay.

Trường hợp Bị đơn không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ

thanh toán thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận theo Điều 8 của Hợp đồng thế chấp số LN2106123864442 ngày 17/6/2021, phù hợp với quy định tại các Điều 299, 317, 318, 320, 321, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu này của Nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nếu sau khi phát mãi tài sản mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán

nợ của Bị đơn thì Bị đơn có trách nhiệm tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp nếu sau khi phát mãi tài sản mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán của Bị đơn thì Nguyên đơn phải hoàn trả phần giá trị còn lại cho Bị đơn.

Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí

Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn

bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều

144, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ các Điều 299, 317, 318, 320, 321, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự

2015.

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010.

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ

G.

Bị đơn ông Nguyễn Tâm P có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH

Mua bán nợ G số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/6/2024 là 770.669.064 (Bảy trăm bảy mươi triệu sáu trăm sáu mươi chín ngàn không trăm sáu mươi bốn) đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 28/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Tâm P còn

phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

Khi Bị đơn ông Nguyễn Tâm P trả hết nợ thì Nguyên đơn Công ty TNHH

Mua bán nợ G có trách nhiệm giải chấp tài sản đảm bảo, trả lại cho Bị đơn 01 bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 cho ông Nguyễn Tâm P, biển số đăng ký 51H-983.79.

Trường hợp ông Nguyễn Tâm P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty TNHH Mua bán nợ G được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST,số loại: LUX A2.0,số khung: RPXAB1RSFMV004181, số máy: 211090059VF20SED, biển số 51H-983.79 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50 042599 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/6/2021 để thu hồi nợ.

Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán nợ thì ông Nguyễn

Tâm P có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trường hợp nếu sau khi phát mãi tài sản mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ

thanh toán thì Công ty TNHH Mua bán nợ G phải hoàn trả phần giá trị còn lại cho ông Nguyễn Tâm P.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Tâm P phải chịu 34.826.763

(Ba mươi bốn triệu tám trăm hai mươi sáu ngàn bảy trăm sáu mươi ba) đồng.

Hoàn lại cho Nguyên đơn Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền 16.306.930

(Mười sáu triệu ba trăm lẻ sáu ngàn chín trăm ba mươi) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001150 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt được

quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ