- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Đình D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thảo D1
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 418/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-8-2025 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Anh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 524/2025/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 582/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 9 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm Đ, xã N (xã N, huyện N cũ), tỉnh Nghệ An, Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo D1, sinh năm 1997. Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Khối S, xã V (thị trấn N, huyện N cũ), tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, anh Nguyễn Đình D trình bày:
Anh D2 và chị Nguyễn Thị Thảo D1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (xã N, huyện N cũ), tỉnh Nghệ An vào ngày 29/11/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn sau đó chị D1 đi làm việc tại Đài Loan. Do không liên lạc được với chị D1 nên anh D2 không biết địa chỉ cụ thể của chị D1 tại Đài Loan. Anh Dũng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị Thảo D1.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung
Về tài sản chung và nợ: Anh Dũng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía chị Nguyễn Thị Thảo D1: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu chị Nguyễn Thị Thảo D1 có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị D1 theo thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật nhưng hiện tại chị D1 vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì. Theo trình bày của ông Nguyễn Huy H (bố của chị D1) thì chị D1 hiện đang ở Đài Loan, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể của chị D1; chị D1 đã biết việc anh D2 làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, nhưng chị D1 không có ý kiến gì. Đến ngày xét xử vụ án chị D1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
- Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Theo Công văn của Cục Q, Bộ C thì chị Nguyễn Thị Thảo D1 có thông tin xuất cảnh và hiện chưa có thông tin nhập cảnh nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc thu thập chứng cứ và đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ. Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, theo ông Nguyễn Huy H (bố của chị D1) cung cấp thông tin hiện nay chị D1 đang ở Đài Loan, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng chị D1 thường xuyên gọi điện thoại về cho gia đình; chị D1 đã biết được việc anh D2 xin ly hôn và không có ý kiến gì. Việc chị D1 vắng mặt được xác định cố tình giấu địa chỉ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và xử cho anh D2 được ly hôn với chị D1.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Anh Dũng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Đình D trình bày chị Nguyễn Thị Thảo D1 đang ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành xác minh tại người thân của chị D1 là ông Nguyễn Huy H thì được cung cấp thông tin là hiện nay chị D1 đang đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan, mặc dù không biết nơi cư trú cụ thể, nhưng chị D1 thường xuyên gọi điện cho gia đình. Ngày 05/7/2025, Cục Q có công văn số 2774/QLXNC-Đ1 cung cấp thông tin chị Nguyễn Thị Thảo D1 xuất cảnh ngày 13/01/2025, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.
Do chị D1 trước khi xuất cảnh có địa chỉ cuối cùng tại tỉnh Nghệ An và hiện nay đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Huy H (bố của chị D1) cung cấp hiện nay chị D1 đang đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan nhưng không biết địa chỉ cụ thể; chị D1 vẫn gọi điện thoại về cho gia đình và đã biết được anh D khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhưng chị D1 không có ý kiến gì. Như vậy, chị D1 đã biết được anh D yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Vì vậy, căn cứ Điều 207; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về hôn nhân: Anh Dũng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với chị D1. Xét thấy, chị D1, anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Hiện anh D đang ở Việt Nam, chị D1 ở nước ngoài không liên lạc nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, giải quyết cho anh Nguyễn Đình D được ly hôn chị Nguyễn Thị Thảo D1 là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Đình D không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị Nguyễn Thị Thảo D1 vắng mặt chưa có ý kiến nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Về án phí: Anh Nguyễn Đình D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Đình D được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thảo D1
2. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Đình D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007994 ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Dũng đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Đình D vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Chị Nguyễn Thị Thảo D1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - UBND xã N, tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Ngọc Anh |