vanban.org

Bản án 418/2025/DSPT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 23/09/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn Q; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn Q; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T;
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 418/2025/DS-PT
Ngày: 23 - 9 - 2025
Về Bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Miễn

Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Nhân

Ông Bùi Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Từ Thanh Thuỳ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 282/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025 Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 328/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1971; CMND: xxxxxxxxx, cấp ngày 11/02/2014; địa chỉ cư trú: Ấp Nhà lầu 2, xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, nay là xã Ninh Thạnh Lợi, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; CMND: xxxxxxxxx, cấp ngày 11/02/2014; địa chỉ cư trú: Ấp Nhà lầu 2, xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, nay là xã Ninh Thạnh Lợi, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Q là nguyên đơn; ông Nguyễn Văn T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nội dung khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn T:

Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 01/10/2024, tại nhà bà Lê Thị Ảnh (mẹ ruột) ông đang sửa mô tơ bơm nước thì Nguyễn Văn T (em ruột) đi đến trên tay có cầm cây tre khoảng hơn 1m, to khoảng ngón chân cái chửi ông không cho ông sửa. Ông định bỏ về thì ông T dùng cây tre tấn công trúng sườn phải, lưng bên trái, cổ tay trái (do đỡ) của ông thì xảy ra xô xát. Ông T đè bóp cổ ông, bà Ảnh nghe thấy chạy ra can ngăn nên hai bên bỏ về nhà.

Ông có trình báo đến Công an để giải quyết. Tuy nhiên, kết quả giám định, thương tích của ông là 0% nên Công an không khởi tố vụ án. Quá trình xảy ra xô xát, ông T đã làm ông bị chấn thương tại vùng hông sườn bên phải, vùng lưng bên trái, chấn thương cổ tay trái và vùng cổ. Sau khi sự việc xảy ra, ông được người nhà đưa đi điều trị thương tích tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Nhập viện vào ngày 01/10/2024 đến ngày 04/10/2024 thì xuất viện. Đến ngày 05/10/2024, ông tiếp tục đến Công ty cổ phần bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để khám và điều trị nhưng không nhập viện. Chi phí điều trị gồm:

- Điều trị tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang số tiền là 890.550đ. Điều trị thương tích và hoá đơn thuốc tại Công ty cổ phần bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang số tiền 3.330.440,58đ; tổng số tiền điều trị thương tích là 4.225.990,58đ.

- Tiền đi lại: Xe đi nhập viện 200.000đ, xe đi xuất viện 200.000đ; Taxi khám tại Công ty cổ phần bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là 1.000.000đ; tổng chi phí đi lại là 1.400.000đ.

- Tiền mất thu nhập thực tế gồm 01 người bệnh và 01 người nuôi bệnh:

Người bệnh: 300.000đ/01 ngày x 05 ngày điều trị là 1.500.000đ. Người nuôi bệnh (người nuôi: Nguyễn Thị Kim Chí): 300.000đ/01 ngày x 05 ngày điều trị là 1.500.000đ; tổng: 3.000.000đ.

- Chi phí ăn uống của người bệnh: 150.000đ/01 ngày x 05 ngày điều trị là 750.000đ.

- Tổn thất tinh thần 40.000.000đ.

Nay ông Q yêu cầu ông T bồi thường tổng số là 49.375.990đ.

* Nội dung trình bày của bị đơn Nguyễn Văn T:

Khoảng hơn 17 giờ ngày 01/10/2024, ông đi ruộng về ngang sau nhà bà Ảnh thì thấy ông Q đang đập phá mô tơ bơm nước, ông nói: “sao ông huỷ hoại tài sản của tôi” thì ông Q đáp: “tài sản của cha, của mẹ tao đập chết mẹ mày luôn” và cầm cây búa thầu xông về phía ông. Ông Q dùng búa đánh vào đầu nhưng ông né được nên chỉ trúng vào lưng. Khi đó trên tay ông đang cầm cây trúc (là cây trúc ông dùng nhổ bông cỏ ngoài ruộng) nên ông đưa ngang trúng sườn của ông Q rồi hai bên xảy ra xô xát. Sau đó, mẹ ông là bà Ảnh chạy ra can nên hai bên bỏ về. Ông bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Sự việc xảy ra ông cũng bị đau, lói, khó thở nhưng ông không đi bệnh viện điều trị mà tự mua thuốc uống.

Nay Ông chỉ đồng ý bồi thường cho ông Q chi phí điều trị thương tích tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Thuận với số tiền 890.550đ còn các chi phí khác thì ông không đồng ý bồi thường. Vì người gây ra sự việc này là ông Q.

Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau, quyết định:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Văn Q với số tiền 5.888.950đ.

- Buộc ông Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn Q số tiền 5.888.950đ.

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Văn Q với số tiền 43.482.040đ

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q đối với ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Văn Q với số tiền 750.000đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, nguyên đơn Nguyễn Văn Q kháng cáo không đồng ý với quyết định của án sơ thẩm với lý do:

Án sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường 5.889.550đ là chưa đủ các chi phí điều trị và tổn thất, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông T phải bồi thường 43.485.440đ.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, bị đơn Nguyễn Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do:

Không chấp nhận bồi thường chi phí mất thu nhập của người nuôi bệnh 600.000đ và tiền tổn thất tinh thần 3.000.000đ do nguyên đơn là người có lỗi.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, buộc bị đơn bồi thường đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn; giử nguyên bản án sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp:

Ông Q khởi kiện yêu cầu ông T bồi thường 49.375.990đ do ông T có hành vi xâm phạm sức khoẻ của ông. Ông T chỉ đồng ý bồi thường 890.550đ. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét đơn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

[2.1] Xét kháng cáo của bị đơn.

Đối với tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh: Thực tế ông Q nhập viện điều trị 03 ngày. Trong thời gian điều trị tại bệnh viện có 01 người nuôi bệnh là thực tế có xảy ra và phù hợp, không trái pháp luật. Số tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh 200.000đ/ngày là có cơ sở và phù hợp với thực tế lao động tại địa phương. Do đó, án sơ thẩm buộc ông T có nghĩa vụ bồi thường 600.000đ tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Đối với tiền bồi thường tổn thất tinh thần: Vụ việc đánh nhau giữa ông Q và ông T xảy ra do nguyên nhân từ ông T gây ra. Vấn đề này được chứng minh là ông Q và ông Đỗ Lưu Sáng đang sửa mô tơ bơm nước thì ông T đến gây sự và xảy ra xô xát (BL:70). Người bị tổn hại về sức khoẻ phải nằm viện là ông Q, nên tổn thất tinh thần của ông Q có khả năng xảy ra. Với sự tổn hại sức khoẻ của ông Q, án sơ thẩm buộc ông T bồi thường 3.000.000đ tiền tổn thất tinh thần là có cơ sở và phù hợp, đúng pháp luật.

Từ nhận định trên, nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông T.

[2.1] Xét kháng cáo của nguyên đơn.

Ông Q yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông và buộc ông T có nghĩa vụ bồi thường tổng số tiền là 43.485.440đ.

Án sơ thẩm chỉ chấp nhận chi phí điều trị cho ông Q tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Thuận với tổng số tiền 1.290.550đ (tiền điều trị 890.550đ + tiền xe 400.000đ); không chấp nhận chi phí, điều trị Tại Công ty cổ phần bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An tại thành phố Rạch Giá với số tiền 4.334.440đ (tiền điều trị 3.330.440,58đ + tiền xe 1.000.000đ) là có căn cứ pháp luật. Bởi, việc điều trị tại Công ty cổ phần bệnh viện đa khoa tư nhân Bình An tại thành phố Rạch Giá không phải là sự điều trị về tổn hại sức khoẻ do ông T gây ra.

Đối với tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh và người bệnh, tiền ăn của người bệnh: Án sơ thẩm xác định tiền mất thu nhập của người bệnh, người nuôi bệnh 200.000đ/ngày/người; tiền ăn uống của người bệnh 133.000đ/ngày là có cơ sở, phù hợp với thực tế ở tại địa phương. Do đó, tổng số tiền mất thu nhập của người bệnh, người nuôi bệnh, tiền ăn của người bệnh 1.599.000đ (tiền mất thu nhập 1.200.000đ + tiền ăn 599.000đ).

Đối với tiền tổn thất tinh thần: Điều 590 Bộ luật Dân sự quy định: Mức bồi thường tối đa đối với xâm hại sức khoẻ là 50 lần mức lương cơ sở. Với thương tích mà bị đơn gây ra cho nguyên đơn được giám định kết luận 00%, án sơ thẩm buộc bị đơn bồi thường số tiền 3.000.000đ là hơn 01 lần mức lương cơ sở là phù hợp.

Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông Q là không có cơ sở nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Q.

[3] Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn văn T không được chấp nhận nên ông T chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ. Ngày 07/7/2025, ông T có nộp 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại Biên lại thu số 0011410 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn Q không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Song, theo quy định của pháp luật ông Q được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn Q; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

2. Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 6 Điều 26, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q. Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Văn Q số tiền 5.889.550 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng. Ngày 07/7/2025, ông T có nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm tại Biên lại thu số 0011410 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

- Ông Nguyễn Văn Q được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ