- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Đinh Công T, bị cáo Bùi Văn H, bị cáo Chu Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 418 /2024/HS-ST Ngày: 16/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Hách
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cờ
Ông Nguyễn Văn Lương
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Xuân Giang – Thư ký TAND quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 16/12/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 414/2024/HSST ngày 22/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: Đinh Công T - Sinh năm 1989; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm N, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở: Không nơi cố định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Đinh Công D; Con bà: Đinh Thị D1; Anh, chị, em ruột: Gia đình có năm anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: 02 tiền án
+ Ngày 21/3/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 21/2022/HSST (Chấp hành xong án phạt tù ngày 21/9/2022, chưa xóa tích).
+ Ngày 28/02/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 05/2023/HS-ST (Trị giá tài sản trộm cắp: 1.550.000 đồng; Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/11/2023, chưa xóa án tích).
Danh chỉ bản số 000****** do Công an quận Đ lập ngày 15/09/2024; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 05/09/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H (Có mặt).
2. Bị cáo: Bùi Văn H - sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm B, xã N, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Bùi Văn D3; Con bà: Quách Thị T1; Anh chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 000****** do Công an quận Đ lập ngày 15/09/2024; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 05/09/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H (Có mặt).
3. Họ và tên: Chu Văn C - sinh năm 1999; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Chu Văn L; Con bà: Hứa Thị H1; Anh chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 000****** do Công an quận Đ lập ngày 15/09/2024; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 05/09/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đinh Công T, bị cáo Chu Văn C: Bà Đinh Thị Thanh H2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, tổ công tác của Công an phường L làm nhiệm vụ tại trước số D ngách F ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội thì phát hiện Chu Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X màu đỏ bạc đen, BKS: 12B1- 162.84, chở theo Bùi Văn H có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, H tự nguyện lấy trong tất tay đang đeo ở tay phải ra 02 gói giấy màu trắng, kích thước khoảng 01x02cm chứa chất bột màu trắng và khai nhận đây là ma túy Heroine. Tổ công tác đã tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ.
Tại bản kết luận giám định số 6530 ngày 14/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu trắng đều là ma tuý loại Heroine, tổng khối lượng: 0,206 gam.
Đến khoảng 17 giờ 40 phút ngày 05/9/2024, tại trước số D phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội tổ công tác của Công an phường L bắt quả tang Lê Đức L1 đang bán trái phép chất ma tuý cho Đinh Công T. Cơ quan Công an tạm giữ trong túi quần phía trước bên trái của L1 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng và 400.000 đồng; tạm giữ trong lòng bàn tay trái của T 02 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đức L1 tại số H ngõ D L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội phát hiện, tạm giữ 03 gói giấy bạc và 06 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 6531 ngày 14/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:
* Tang vật tạm giữ của Lê Đức L1 gồm:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,105 gam
* Tang vật tạm giữ của Đinh Công T gồm:
- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy màu trắng đều là ma tuý loại Heroine, tổng khối lượng: 0,201 gam.
* Tang vật tạm giữ khi khám xét gồm:
- Chất bột màu trắng bên trong 06 gói giấy màu trắng và 03 gói giấy màu bạc đều là ma tuý loại Heroine, tổng khối lượng: 0,575 gam
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn H và Chu Văn C khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/09/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H mượn điện thoại của C gọi vào số điện thoại 0********* của Lê Đức L1 hỏi mua 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng/01 gói, L1 đồng ý và hẹn giao dịch tại quán nước số D phố T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Do không có xe nên H nhờ C chở đi. C biết H đi mua ma túy và muốn sử dụng cùng nên đã đồng ý, sau đó C mượn xe máy Honda Winner X, BKS: 12B1-162.84 của Hứa Văn D4 (sinh năm: 1998, nơi thường trú: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) chở H đi mua ma tuý. Cả hai đi đến số D phố T nhưng không thấy L1 nên H bảo C chở đến nhà L1 tại ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội. Khi gần đến nhà L1, C dừng xe đứng đợi còn H đi bộ vào số H ngách D ngõ L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội gặp L1. Tại đây, H mua của L1 02 gói ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu vào tất tay đang đeo trên tay phải rồi quay lại chỗ C đang đứng đợi, bảo đi về sử dụng. Khi C chở H đến trước số nhà D ngách F ngõ T thì bị tổ công tác công an phường L kiểm tra, phát hiện và tạm giữ số tang vật như đã nêu ở trên.
Tại Cơ quan điều tra Đinh Công T, Lê Đức L1 khai nhận: Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 05/9/2024, T gọi vào số điện thoại 0********* của Lê Đức L1 hỏi mua 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng/01 gói thì được L1 hẹn giao dịch tại quán nước số D phố T. T đi bộ đến thì thấy L1 đang ngồi uống nước. Tại đây, T thả 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng vào trong túi nilong trên ghế cạnh chỗ L1 ngồi còn L1 thả 02 (hai) gói Heroine xuống đất. T nhặt 02 gói ma tuý lên cầm trong lòng bàn tay trái định đi về thì bị tổ Công tác Công an phường L kiểm tra, phát hiện và tạm giữ số tang vật như đã nêu ở trên.
Ngoài việc bán ma tuý cho Đinh Công T bị bắt quả tang, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định Lê Đức L1 có hành vi bán ma tuý cho Bùi Văn H vào trưa ngày 05/9/2024 tại số H ngách D ngõ L, V, Đ, Hà Nội.
Về nguồn gốc số ma tuý L1 bán cho T, H và số ma tuý Cơ quan Công an tạm giữ khi khám xét, L1 khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực trước số D phố K, phường G, quận H, thành phố Hà Nội với giá 1.500.000 đồng để bán kiếm lời. L1 không biết nhân thân lai lịch của đối tượng bán ma tuý nên Cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được.
Đối với Hứa Văn D4, tại Cơ quan điều tra, D4 khai không biết việc C mượn xe để đi mua ma tuý do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Ngày 14/9/2024, Bị can Lê Đức L1 đã chết do bệnh lý tại nhà riêng, khu phố M, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Đ đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 9597/QĐ-ĐCSMT ngày 11/11/2024 đối với Lê Đức L1.
Vật chứng vụ án
Quá trình điều tra, ngoài số ma túy của Bùi Văn H, Lê Đức L1 và Đinh Công T bị thu giữ, Cơ quan điều tra đã tạm giữ những đồ vật, tài sản gồm:
- Tạm giữ của Chu Văn C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; 01 (một) chiếc xe máy Honda Winner X màu đỏ bạc đen, BKS:12B1 -162.84;
- Tạm giữ của Đinh Công T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh;
- Tạm giữ của Lê Đức L1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, 01 ví giả da màu đen và 800.000 đồng tiền bán ma túy.
Đối với số ma túy, điện thoại, ví và tiền tạm giữ của các bị can, Cơ quan điều tra Công an quận Đ đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy Honda Winner X màu đỏ bạc đen, BKS: 12B1-162.84 tạm giữ của Chu Văn C qua xác minh thuộc sở hữu của ông Hứa Văn N (sinh năm: 1975, nơi thường trú: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là bố đẻ của Hứa Văn D4). Do đó, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe trên cho ông Hứa Văn N.
Tại bản cáo trạng số 419/CT-VKSĐĐ ngày 19/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố các bị cáo Đinh Công T, Bùi Văn H và Chu Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị: Xử phạt bị cáo Đinh Công T từ 18 đến 24 tháng tù.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 15 đến 18 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Chu Văn C từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý tang vật:
Tịch thu tiêu huỷ số ma túy thu giữ của các bị cáo. Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, 01 ví giả da màu đen và 800.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, đã qua sử dụng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa. Đã nhận thức và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo T, bị cáo C: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sinh sống ở vùng sâu kém phát triển nên cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Đinh Công T, Bùi Văn H, Chu Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được của vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 05/9/2024, tại trước số D ngách F ngõ T, phường Q, quận Đ, Hà Nội, Bùi Văn H và Chu Văn C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (0,206 gam ma túy loại Heroine), mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội bắt quả tang. Qua điều tra xác định nguồn gốc số ma túy trên H mua của Lê Đức L1 với giá 400.000 đồng. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 05/9/2024, tại trước số D phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội. Tổ công tác của Công an phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội bắt quả tang Lê Đức L1 đang bán cho Đinh Công T 0,201 gam ma túy Heroine với giá 400.000 đồng, T mua ma túy về với mục đích để sử dụng. Ngoài ra, qua khám xét khẩn cấp nơi ở L, Cơ quan điều tra còn thu giữ 0,575 gam Heroin. L1 khai tàng trữ ma túy trên với mục đích bán trái phép. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, bị can Lê Đức L1 đã chết vào ngày 14/9/2024 do bệnh lý, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 9597/QĐ-ĐCSMT ngày 11/11/2024 đối với Lê Đức L1. Hành vi của bị cáo Đinh Công T, Bùi Văn H, Chu Văn C đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Ma túy là chất kích thích gây cảm giác ảo cho người sử dụng, dẫn đến họ không kiểm soát được hành vi, hoạt động của mình, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Bị cáo Đinh Công T có 02 tiền án chưa được xóa. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét sau khi phạm tội, bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Bị cáo Bùi Văn H, bị cáo Chu Văn C phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét sau khi phạm tội, bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
- Ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành trái phép nên tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo; 01 ví giả da màu đen không còn giá trị sử dụng nên cho tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 03 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo do có liên quan đến hành vi phạm tội.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Đức L1 theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949 Của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ lập ngày 21/11/2024.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
Bị cáo Đinh Công T, bị cáo Bùi Văn H, bị cáo Chu Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Đinh Công T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Bùi Văn H 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
Xử phạt Chu Văn C 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký giám định viên Nguyễn Văn H3, đối tượng Bùi Văn H, Chu Văn C, cán bộ Công an phường Nquyễn Quốc A cùng hình dấu Công an phường L; 01 (một) phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký giám định viên Nguyễn Văn H3, đối tượng Đinh Công T, cán bộ Công an phường Phạm Trung H4, người chứng kiến Đặng Văn M, điểm chỉ Hà Văn M1, cùng hình dấu Công an phường L; 01 (một) phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký giám định viên Nguyễn Văn H3, đối tượng Lê Đức L1, cán bộ Công an phường Phạm Trung H4, người chứng kiến Đặng Văn M, điểm chỉ Hà Văn M1, cùng hình dấu Công an phường L; 01 (một) phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký giám định viên Nguyễn Văn H3, đối tượng Lê Đức L1, cán bộ điều tra Nguyễn Trọng H5, người chứng kiến Đặng Văn M cùng hình dấu Công an phường L; 01 ví giả da màu đen.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi màu đen qua sử dụng bị vỡ mặt sau, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong; 01 điện thoại di động Samsung màu xanh qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
Các vật chứng nói trên hiện đang lưu tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đ theo biên bản giao nhận vật chứng số 100 ngày 11/12/2024.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Đức L1. Số tiền trên hiện đang ở trong tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949 ngày 21/11/2024.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Đống Đa; - Công an quận Đ; - Chi cục THADS quận Đ; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ TRẦN CÔNG HÁCH |