vanban.org

Bản án 418/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần R,

giữ nguyên phần quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự s thẩm số 10/2022/HSST ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị đối với bị cáo Trần R. Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần R: Tù Chung thân, về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần R - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần R,
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 418/2022/HS-PT
Ngày: 27/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Thi

Các thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Nguyễn Tấn Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị,

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự

thụ lý số 260/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 6 năm 2022 đối với ị cáo Trần R

về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với

Bản án hình sự s thẩm số 10/2022/HSST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân

tỉnh Quảng Trị.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần R, sinh ngày 10/12/1983, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; n i cư trú: Thôn

T, xã C, huyện C1, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam;

dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 9/12. Con ông Trần Phước L

(đã chết); con à Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1944; gia đình có 04 anh, em, ị cáo

là con thứ a. Đã ly hôn vợ. Có 02 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm

2010. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2008, ị TAND TX Đông Hà xử

phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; năm 2011, ị TAND huyện

Gio Linh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản ”; năm 2018, ị Công an

huyện C1 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền l.000.000đ về

hành vi “Cá cược bằng tiền trong hoạt động thể thao”. Bị cáo ị tạm giữ, tạm

giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 25/5/2021 cho đến nay,

có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Trần R: Ông Võ Sỹ C2 - Luật sư văn phòng

luật sư V, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Trị, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại

phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Vào lúc 19 giờ 50 phút ngày 25/5/2021, tại nhà của ị cáo Trần R ở thôn

T, xã C, huyện C1, tỉnh Quảng Trị, C quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị khám xét phát hiện trong người Trần R đang cất giữ 30,92gam ma túy, loại methamphetamine ở túi quần đang mặc, nhằm mục đích sử dụng. Đến 22 giờ 30 phút ngày 25/5/2022, tiếp tục tiến hành khám xét chỗ ở của R, phát hiện ở tầng hai: 0,5813 gam ma túy loại methamphetamine; khám xét tại phòng kho phát hiện 2.905,6 gam ma túy loại methamphetamine; phát hiện tại ồn cây ên trái nhà ở của R 1.087,80gam ma túy loại methamphetamine.

Qúa trình điều tra, bị cáo khai nhận:

Khoảng tháng 11/2020, Trần R quen một người đàn ông thường gọi là

Siều, ở khu vực thị trấn Lao Bảo (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) và iết người này có án ma túy tổng hợp. Kể từ đó, R thường mua ma túy của người này để sử dụng. Khoảng 10 giờ ngày 20/4/2021, R điện thoại cho Siều (theo số 0353851257) đặt mua 02 gói (khoảng 400 viên) ma túy tổng hợp để sử dụng. Siều đồng ý án với giá 10.000.000đ và hẹn đến ờ hồ thị trấn Lao Bảo để giao dịch như những lần mua án trước đó. Sau khi thỏa thuận, R đón xe khách từ C1 đến thị trấn Lao Bảo.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, R đến điểm hẹn và điện thoại cho Siều iết.

Khoảng 20 phút sau, Siều đến gặp R nhưng không mang theo ma túy để án như đã thỏa thuận mà đặt vấn đề thuê R cất giữ 01 gói “hàng” (R biết là ma túy) và hứa trả công cho R 02 gói (khoảng 400 viên) ma túy tổng hợp và 10.000.000d. R đồng ý và yêu cầu Siều đưa ma túy đến nhà R tại C1 để cất giữ. Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/4/2021, khi R đang ở nhà thì Siều đi xe mô tô đến giao cho R 01 túi ni lông màu đen có hai quai xách được uộc lại với nhau và nói “hàng đây cất đi”, rồi tiếp tục đưa cho R 02 túi ni lông màu xanh đụng khoảng 400 viên ma túy tổng hợp (dạng viên nén), 01 túi ni lông trong suốt đựng ma túy tổng hợp (dạng đá), tại phòng ngủ của mình ở tầng 2 R mở túi màu đen thấy ở trong có 03 gói được quấn ên ngoài ằng ăng keo màu trắng - vàng, iết là ma túy tổng hợp dạng “đá”; 02 gói màu vàng, ên trong cùng có 59 gói nhỏ, mỗi gói có khoảng 200 viên nén màu hồng và màu xanh thường gọi là hồng phiến. R lấy túi ni lông màu đen ỏ 03 gói màu trắng - vàng đựng ma túy tổng hợp dạng “đá” cất giấu trên tủ sắt ở phòng kho ên trái nhà. R tiếp tục lấy 01 túi ni lông màu đen ỏ 02 gói màu vàng đựng ma túy tổng hợp hồng phiến vào và cất giấu trên ồn

cây ên trái nhà R chờ người đến lấy. Riêng 01 túi ni lông trong suốt đựng ma

túy đá, 02 túi ni lông màu xanh đựng khoảng 400 viên ma túy hồng phiến và

10.000.000đ R mang theo người (đã sử dụng ma túy nhiều lần và sử dụng tiền

chi tiêu cho cá nhân), số ma túy còn lại, R cất giấu 01 viên ma túy trong tủ áo

quần, 05 viên ma túy trên sàn nhà tầng 2, 02 túi ni lông màu xanh đựng ma túy

để trong vỏ thuốc lá hiệu JET R cất trong túi quần mình đang mặc cho đến khi ị

phát hiện, ắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 598/KLGĐ-KTHS ngày 01/6/2021, của

Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

Các viên nén màu hồng trong gói niêm phong ký hiệu MR gửi giám định

có khối lượng 30,92g là ma túy loại methamphetamine;

Các tinh thế màu trắng trong hộp giấy ký hiệu MT1K gửi giám định có

khối lượng 2.905,6g là ma túy loại methamphetamine;

Các viên nén màu hồng trong hộp giấy, kí hiệu MT2K gửi giám định có

khối lượng 1.087,80g là ma túy loại methamphetamine;

06 (sáu) viên nén màu hồng trong phong bì giấy kí hiệu MT3I gửi giám

định có khối lượng 0,5813g là ma túy loại methamphetamine.

Các viên nén màu xanh trong hộp giấy ký hiệu MR gửi giám định, có khối

lượng 0,28g không tìm thấy chất ma túy trong các viên nén này; Các viên nén

màu xanh trong hộp giấy ký hiệu MT2K gửi giám định, có khối lượng 10,65g

không tìm thấy chất ma túy trong các viên nén này. Methamphetamine là chất

ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày

15/5/2018 của Chính phủ; Tổng số ma túy bị thu giữ là: 4.024,9013g ma túy

loại methamphetamine;

Trong đó: Ma túy loại methamphetamine dạng đá có khối lượng: 2.905,6

gam; Ma túy loại methamphetamine dạng viên nén có khối lượng: 1.119,3013

gam.

Về vật chứng:

Quá trình ắt người phạm tội quả tang đối với Trần R, C quan CSĐT

Công an tỉnh Quảng Trị đã tạm giữ:

Toàn ộ số mà túy được niêm phong có ký hiệu riêng.

Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 5.825.000đ (năm triệu tám trăm hai

mươi lăm nghìn đồng).

Khám xét chỗ ở của Trần R tại thôn T, xã C, huyện C1, tỉnh Quảng Trị,

C quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị đã tạm giữ:

Ma túy có ký hiệu riêng;

01 (một) cân điện tử, kích thước 17,3cm x 1 l,3cm X 3cm, vỏ ằng nhựa

màu đen, ên ngoài có chữ NOTEBOOK.

Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 21.350.000đ (hai mươi mốt triệu ba

trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này của chị Nguyễn Thị Tuyết Trinh gửi tại nhà của ị cáo.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đỏ, àn phím số, đã qua

sử dụng, ên trong có gắn 02 sim Vinaphone màu trắng, trong đó: 01 sim có in dãy số 898402000 11206760934; 01 sim có in dãy số 89840200011217222288.

Từ những nội dung đã được xác định nêu trên, tại B n án h nh s s

thẩm s 10/2022/HSST ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Qu ng Trị đã uy t định:

Tuyên ố ị cáo Trần R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng điểm khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt ị cáo Trần R: Tù Chung thân; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/5/2021).

Ngoài ra, Bản án s thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí

và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử s thẩm ngày 30/5/2022 ị cáo Trần R có đ n kháng cáo

xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo và trình ày đã khai

áo cho Công an phát hiện một vụ án liên quan ma túy khác nên xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát iểu như sau:

Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử, những

người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm

tội của ị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên Quyết định về hình phạt của Bản án s thẩm đối với ị cáo.

Người ào chữa cho ị cáo trình ày sau khi ị ắt, ị cáo đã khai áo về

một vụ án ma túy khác nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ lập công chuộc tội, do vậy, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt đối với ị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được xem xét và kết quả

tranh tụng tại phiến toà phúc thẩm, xem xét kháng cáo của bị cáo Trần R, Hội

đồng xét xử xét thấy:

. Tại phiên toà phúc thẩm, ị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội như

Bản án s thẩm đã xác định, Trần R là người nghiện và thường xuyên mua ma

tuý của một người chưa xác định tên là Siều ở thị trấn Lao Bao để sử dụng.

Khoảng 12h ngày 20/4/2021, Trần R đón xe khách đi từ C1 đến thị trấn Lao Bảo

để mua ma tuý. Siều và R đã thoả thuận đưa cho R cất giữ 01 gói hàng, R iết

đó là ma tuý và Siều đã trả công cho R 10.000.000 đồng, sau đó, từ lúc 10h50’

đến 20h30’ ngày 25/5/2021, C quan điều tra đã khám xét người và n i ở của R

thu giữ 30,92 gam ma tuý loại methamphetamine trong người Trần R và

3.993,9813 gam tại n i ở của ị cáo.

Tại Bản kết luận giám định số 598/KLGĐ-KTHS ngày 01/6/2021 của

Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Trị đã kết luận như sau:

Các viên nén màu hồng trong gói niêm phong ký hiệu MR gửi giám định

có khối lượng 30,92g là ma túy loại methamphetamine;

Các tinh thế màu trắng trong hộp giấy ký hiệu MT1K gửi giám định có

khối lượng 2.905,6g là ma túy loại methamphetamine;

Các viên nén màu hồng trong hộp giấy, kí hiệu MT2K gửi giám định có

khối lượng 1.087,80g là ma túy loại methamphetamine;

06 (sáu) viên nén màu hồng trong phong bì giấy kí hiệu MT3I gửi giám

định có khối lượng 0,5813g là ma túy loại methamphetamine.

Các viên nén màu xanh trong hộp giấy ký hiệu MR gửi giám định, có khối

lượng 0,28g không tìm thấy chất ma túy trong các viên nén này; Các viên nén

màu xanh trong hộp giấy ký hiệu MT2K gửi giám định, có khối lượng 10,65g

không tìm thấy chất ma túy trong các viên nén này. Methamphetamine là chất

ma túy nằm trong Danh mục II, STT 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày

15/5/2018 của Chính phủ; Tổng số ma túy bị thu giữ là: 4.024,9013g ma túy

loại methamphetamine;

Trong đó: Ma túy loại methamphetamine dạng đá có khối lượng: 2.905,6

gam; Ma túy loại methamphetamine dạng viên nén có khối lượng: 1.119,3013

gam.

Ngoài ra c quan điều tra công an tỉnh Quảng Trị còn thu giữ một số vật

chứng liên quan trong quá trình khám xét và đã được xử lý.

Với tính chất hành vi phạm tội nêu trên của ị cáo, tại Bản án s thẩm đã

áp dụng điểm khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật

Hình sự, xử phạt ị cáo Trần R: Tù Chung thân là có căn cứ đúng pháp luật.

. Xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo xét thấy: Bị cáo

Trần R đã có hành vi tàng trữ 4.024,9013 gam ma tuý loại methamphetamine là có số lượng rất lớn, theo quy định tại điểm khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau: “ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc chung thân..”

- Ma túy loại methamphetamine có khối lượng100 gam trở lên.

Với số lượng ma tuý ị cáo đã tàng trữ Trong đó: Ma túy loại

methamphetamine dạng đá có khối lượng: 2.905,6 gam; Ma túy loại methamphetamine dạng viên nén có khối lượng: 1.119,3013 gam, là có khối lượng ma túy vượt rất cao so với mức khởi điểm của khung hình phạt được quy định tại điểm khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự, h n nữa, ị cáo có nhân thân rất xấu, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp s thẩm xem xét, áp dụng đầy đủ, tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo và Luật sư ào chữa cho ị cáo trình ày, sau khi ị ắt giữ, ị cáo đã khai áo cho c quan Công an phát hiện về một vụ án ma túy khác, nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh. Với số lượng ma túy tàng trữ như đã xác định nêu trên, tính chất, hành vi phạm tội của ị cáo là đặc iệt nghiêm trọng, Toà án cấp s thẩm đã xử phạt ị cáo với mức án Tù chung thân là tư ng xứng, đúng với tính chất hành vi phạm tội. Tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết gì mới, do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên Quyết định về hình phạt tại Bản án s thẩm đối với ị cáo.

. Các quyết định khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo kháng

nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ị cáo phải

chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần R,

giữ nguyên phần quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự s thẩm số 10/2022/HSST ngày 19/5/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị đối với bị cáo Trần R.

2. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39

Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần R: Tù Chung thân, về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2021.

3. Các quyết định khác về, xử lý vật chứng, án phí s thẩm của Bản án s

thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30-12-2016 của Ủy an thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, bị cáo Trần

R phải chịu 200.000 án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ