vanban.org

Bản án 418/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp d ng vào các Điều 51, 53, 56, 58,59, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nh n gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, …

Về hôn nh n: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn M. Anh Nguyễn Văn M được ly hôn với chị Ph m Minh T Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 182/2013 ngày 26/9/2013 của Ủy ban nh n dân Xã B, Huy n Châu Thành, Tỉnh An Giang không c n giá trị pháp lý Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp d ng vào các Điều 51, 53, 56, 58,59, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nh n gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, …
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tố t ng d n sự; Điều 192 Bộ luật tố t ng d n sự em
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 418/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 11-11-2020
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung và chia tài sản chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều

2/- Bà Mai Thị Thu Hà

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký T a án nh n d n huy n Ch u Thành

Đ i di n Vi n ki m át nh n d n huy n Ch u Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em– Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 11 năm 2020 t i tr s Toà án nh n d n huy n Ch u Thành t sơ th m công khai v án th lý số: 369/2020/TLST–HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung và chia tài sản chung” theo quyết định đưa v án ra t số 210/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1967 (có mặt)

Nơi cư trú:Tổ 11, Ấp P , xã B, huy n C, tỉnh An Giang.

-Bị đơn: Chị Ph m Minh T, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi cư trú:Tổ 11, Ấp P, xã B, huy n C, tỉnh An Giang

T m trú: Tổ 5, Ấp V, Xã Vĩnh H, huy n C, An Giang.

-Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962 (vắng mặt)C Thành, An Giang.

2/. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 5, Ấp Vĩnh Th, Xã Vĩnh H, huy n C, An Giang.

3/. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 18, Ấp H, Thị trấn A, huy n C, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 01/10/2019, các bản tự khai bổ sung,các biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:

-Về hôn nhân: Anh và chị T kết hôn với nhau vào năm 2012 Hôn nh n do tự nguy n, không có tổ chức đám cưới, nhưng có đăng ký kết hôn Cuộc sống vợ chồng sống h nh phúc được một thời gian thì phát sinh m u thuẫn, nguyên nhân m u thuẫn là do bất đồng trong cuộc sống, trong công vi c làm ăn, tiền b c, nợ nần từ đó vợ chồng luôn bất h a, gia đình không có h nh phúc và từ khoản tháng 8/2019 thì hai bên ly th n cho đến nay Nay tình cảm vợ chồng không c n nên anh yêu cầu in được ly hôn với chị T.

-Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 21/8/2013 Hi n cháu T đang sống với anh. Sau khi ly hôn anh yêu cầu tiếp được được nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung

-Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị cùng t o lập một số tài sản:

Có 01 căn nhà cấp 4, di n tích ngang 4m dài 16 được y dựng trên di n tích đất ngang 4m, dài 21m Số tiền cất nhà là 170 000 000 đồng, nguồn tiền cất nhà là tiền của anh đã bán căn nhà riêng khu d n cư Bình H a được 160 000 000 đồng Sau khi ly hôn yêu cầu T có nghĩa v trả l i anh là 160 000 000đồng, anh đồng ý giao cho T được s hữu căn nhà.

Năm 2014 anh mang về nhà các tài sản là 02 bộ bàn ghế gỗ, 01 bộ bàn ghế đá, 01 tủ l nh Sanyo, 01 tủ đựng tivi, 02 tivi (01 cái 21 inch, 01 cái 32 inch), 01 tủ để ly ch n, anh yêu cầu T trả l i toàn bộ tài sản này, riêng tủ l nh sanyo khi anh mang về chị Tchê cũ nên anh có bỏ tiền ra mua tủ mới hơn 5 000 000 đồng s d ng đến nay, nay anh đồng ý chia đôi anh in nhận tủ và giao ½ giá trị tủ l nh theo định giá hi n nay cho chị Tlà 630.000 đồng.

Năm 2018 mẹ vợ là bà Nguyễn Thị D cho Đội thi công công trình thuê nhà khi anh đi làm ăn a, giá thuê 1 800 000 đồng/tháng 5 tháng là 9.000.000 đồng, nay anh yêu cầu bà D trả l i 9 000 000 đồng tiền cho thuê trọ căn nhà đó và anh đồng ý chia hai mỗi người 4 500.000 đồng

- Về nợ chung: Anh và T có nợ tiền vật li u, tiền công y nhà gồm nợ anh L 4 500 000 đồng, anh P 4 500 000 đồng, chị L 3 000 000 đồng và anh H 7 000 000 đồng Anh yêu cầu chị T trả 7 000 000 đồng tiền nợ của anh H, phần nợ còn l i anh sẽ tự trả không yêu cầu trong v ki n này. Riêng số nợ T khai nợ bà Nguyễn Thị D 100.000.000 đồng và nợ bà Nguyễn Thị X 50.000.000 đồng là hoàn toàn không có nên không đồng ý trả.

Tại bản tự khai ngày 08/10/2019 và ngày 14/7/2020 bị đơn chị Phạm Minh T trình bày:

- Về hôn nh n: Vào năm 2012 do quen biết chị và anh M tự nguy n đến với nhau, không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn Sau khi kết hôn được sự hỗ trợ của cha mẹ chị giúp vợ chồng cất nhà trên di n tích đất thổ cư của người anh Quá trình chung sống chồng chị là người nhỏ nhen ích kỷ, tính toán chi ly, thậm chí thường uyên đánh đập chị vô cớ, đồng thời có những lời lẽ úc ph m và em thường cha mẹ vợ. Do có mâu thuẫn nên vợ chồng có ra Bình Dương làm công nh n nhưng anh M vẫn tánh nào tật nấy thường uyên đánh đập chị, tiền lương có được không ph chị trả tiền nhà trọ và nuôi con nên chị phải g i con về cho ngo i chăm sóc, tình cảm vợ chồng r n nứt anh M bắt con về nuôi và vợ chồng ly th n đến nay Nay chị đồng ý ly hôn với anh M.

- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị T , sinh ngày 21/8/2013 Hi n cháu T đang sống với anh M Sau khi ly hôn chị đồng ý để cháu T cho anh M được tiếp t c nuôi dưỡng cháu T , chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị cùng t o lập một số tài sản:

Có 01 căn nhà tọa l c t i địa chỉ ấp Vĩnh Th nh ã Vĩnh Hanh huy n Ch u Thành,Tỉnh An Giang di n tích ngang 4m dài 16m được y dựng trên di n tích đất của anh ruột Ph m Phước L . Chị đồng ý nhận nhà và chia cho anh M ½ giá trị bằng tiền, chứ không đồng ý chia 160 000 000đồng theo yêu cầu của anh M .

- Về nợ chung: Quá trình chung sống chị và anh M có t o lập được 01 căn nhà trên là do tháng 5/2014 chị và anh M mượn tiền từ bà Nguyễn Thị D sinh năm 1962; số nhà 257, ấp Vĩnh Th nh, Xã Vĩnh Hanh, huy n Ch u Thành, tỉnh An Giang 100 000 000đồng và mượn số tiền của bà Nguyễn Thị X sinh năm 1958 ấp Vĩnh Th nh ã Vĩnh Hanh huy n Ch u Thành tỉnh An Giang số tiền 50 000 000đồng Đối với số nợ chung 150 000 000đồng này hi n nay chưa trả ong, chị yêu cầu anh M cùng chịu trách nhi m đối với số nợ chung này.

Tại biên bản lấy lời khai và hòa giải ngày 12/6/2020 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị D trình bày:

Nguồn gốc đất là của ông Ph m Phước L là con trai thứ 2 của bà đứng tên, cho vợ chồng M – T cất nhà t m Ông M không phải bán nhà 160 000 000đồng mà chỉ có 110 000 000đồng và có trả nợ hết khoảng 40 000 000đồng Nhà là do vợ chồng tự cất bà không biết bao nhiêu tiền, hi n nhà đang bỏ không, bà chỉ gi chìa khóa dùm.

M yêu cầu T trả l i toàn bộ tài sản là 02 bộ bàn ghế gỗ, 01 bộ bàn ghế đá, 01 tủ l nh Sanyo, 01 tủ đựng tivi, 02 tivi (01 cái 21 inch, 01 cái 32 inch), 01 tủ để ly ch n, 01 chiếc v ng và nhẫn khoảng 1,5 chỉ vàng 18kra và 01 đi n tho i cảm ứng cho cháu T thì T đồng ý trả l i tài sản đó trừ cái tủ l nh Sanyo là của T mua. Đã trả l i cho M 01 chiếc v ng và nhẫn khoảng 1,5 chỉ vàng 18kra Mích đã nhận l i 01 chiếc v ng và nhẫn khoảng 1,5 chỉ vàng 18kra

Bà thừa nhận có cho Đội thi công công trình thuê nhà khi M đi làm ăn a, giá thuê 1 800 000 đồng/tháng 5 tháng là 9.000.000 đồng, bà không đồng ý trả l i 9 000 000 đồng tiền cho thuê trọ căn nhà đó vì cho thuê để lấy tiền trả nợ tiền y nhà cho vợ chồng M – T, trả cho thiếm Tư B 5 000 000 đồng, vợ thằng Đ 4 000 000 đồng do 2 vợ chồng hỏi nợ

M yêu cầu T trả 7 tri u tiền nợ vật li u, tiền công y nhà của anh H, bà không đồng ý, do vợ chồng M – T tự mượn nợ chứ bà không biết

Tại bản tự khai ngày 24/10/2019 người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: ông có cho ông Nguyễn Văn M sinh năm 1967 ấp Phú H a 1 ã bình H a mượn số tiền 7 000 000 đồng (bảy tri u đồng) từ ngày 03/5/2015.

Đối với người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X: Sau khi th lý v ki n T a án có tống đ t, niêm yết hợp l thông báo th lý, thông báo về phiên họp kiểm tra vi c giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và h a giải, nhưng phía bà Nguyễn Thị X đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: T i giai đo n sơ th m những người tiến hành tố t ng và tham gia tố t ng đã thực hi n đúng các quy định của bộ luật tố t ng d n sự và tu n thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết v án Về nội dung v án đề nghị Hội đồng t chấp nhận yêu cầu của chị anh Nguyễn Văn M, cho anh được ly hôn với chị Ph m Minh T; Anh Mích được tiếp t c nuôi con chung, chị T không phải cấp dưỡng; Về tài sản chung chia đôi căn nhà, 01 tủ l nh và buộc bà D trả l i số tiền 9 000 000đồng chia đôi cho anh M và chị T, anh M nhận giá trị nhà và tủ l nh, chị T nhận nhà và giá trị tủ l nh; về số nợ ông Nguyễn Văn H , bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị X sẽ được em t giải giải quyết trong v ki n khác nếu có yêu cầu và thời hi u kh i ki n c n Anh M và chị T phải chịu án phí hôn nh n gia đình và án phí chia tài sản chung theo quy định Bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí d n sự sơ th m đối với số tiền phải trả cho anh M, chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ t c tố t ng: Chị Ph m Minh T là bị đơn trong v ki n, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn H đã được T a án tri u tập hợp l đến phiên t a t lần thứ ba nhưng vẫn vắng mặt Theo quy định t i khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố t ng d n sự, T a án vẫn tiến hành t vắng mặt đối với chị Ph m Minh T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn H.

Về hôn nh n: Anh Nguyễn Văn M và chị Ph m Minh T chung sống với nhau vào năm 2012, hôn nh n y dựng trên cơ s tự nguy n và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26 tháng 9 năm 2013 t i UBND ã B, Huy n Ch u Thành, tỉnh An Giang Do vậy, hôn nh n của anh, chị được công nhận là hôn nh n hợp pháp.

X t về mối quan h hôn nh n, Hội đồng t nhận thấy: Anh M và chị T chung sống h nh phúc được khoảng 8 năm thì phát sinh m u thuẫn, nguyên nhâu m u thuẫn theo anh M trình bày là do bất đồng trong cuộc sống, trong công vi c làm ăn, tiền b c, nợ nần từ đó vợ chồng luôn bất h a, gia đình không có h nh phúc và từ khoảng tháng 8/2019 thì hai bên ly th n cho đến nay; Về phía chị T thì cho rằng nguyên nh n m u thuẫn là do anh M là người nhỏ nhen ích kỷ, tính toán chi ly, thường uyên đánh đập chị vô cớ, đồng thời có những lời lẽ úc ph m và em thường cha mẹ vợ… tình cảm vợ chồng r n nứt nên chị đồng ý ly hôn X t thấy, thời gian ly th n đến nay đã ãy ra nhiều m u thuẫn, hai bên không có thi n chí để hàn gắn l i quan h tình cảm mà mỗi người đều có cuộc sống riêng, h nh phúc hôn nh n không đ t được Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Mích là hoàn toàn phù hợp

Về con chung: Anh M và chị T có 01 con chung tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 21/8/2013 Hi n cháu T đang sống với anh M. Khi ly hôn, chị T đồng ý để cho anh M được tiếp t c nuôi dưỡng con chung X t thấy từ khi ly th n đến nay cháu T sống với anh M và t i biên bản lấy lời khai ngày 22/6/2020 cháu T có nguy n vọng sống với cha Do đó nghĩ nên để anh M được tiếp t c nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp

Về cấp dưỡng nuôi con chung anh M không yêu cầu nên không đặt ra em xét.

Về tài sản chung: Tài sản chung hai bên đang tranh chấp gồm có:

- Đối với căn nhà cấp 4 ngang 4m dài 16m tọa l c ấp Vĩnh Th nh ã Vĩnh Hanh, huy n Ch u Thành, Tỉnh An Giang: Anh M trình bày nhà cất vào năm 2014 số tiền cất nhà 170.000.000 đồng là do anh bán căn nhà riêng của anh khu d n cư Bình H a được 160 000 000 đồng, sau khi ly hôn anh đồng ý giao căn nhà cho chị T được s hữu nhưng T phải trả l i cho anh 160 000 000 đồng Phía chị T thống nhất tài sản chung có căn nhà cất trên đất của anh ruột chị Ph m Phước L như anh M trình bày, chị yêu cầu chia hai và đồng ý nhận nhà trả l i ½ giá trị căn nhà cho anh M. X t thấy căn nhà được y dựng trong thời kỳ hôn nh n hợp pháp được hai bên thừa nhận là tài sản chung của vợ chồng Do đó khi ly hôn nghĩ nên căn cứ vào điều 59 luật hôn nh n gia đình chia đôi cho hai bên là phù hợp; phía anh M có yêu cầu nhận giá trị và đồng ý giao căn nhà cho chị T s hữu nên căn cứ vào biên bản định giá ngày 09/7/2020 căn nhà có giá trị 248 096 000 đồng Do đó nghĩ nên giao căn nhà cho chị T được s hữu, đồng thời chị T có nghĩa v giao l i ½ giá trị tài sản được chia là 124 048 000 đồng cho anh M là hoàn toàn phù hợp

- Đối với số tiền cho thuê nhà anh Mích trình bày vào năm 2018 bà Nguyễn Thị D (mẹ vợ) có cho đội thi công công trình thuê nhà trong thời gian anh đi làm Bình Dương mỗi tháng 1 800 000 đồng 5 tháng = 9 000 000 đồng, nay anh yêu cầu bà D trả l i chia hai cho anh và T. Qua lời khai cũng như t i biên bản h a giải ngày 12/6/2020 bà D thừa nhận có cho thuê 5 tháng được số tiền 9 000 000 đồng như anh M trình bày nhưng bà cho rằng số tiền này bà đã trả nợ cho thiếm tư B 5 000 000 đồng và vợ thằng Đ 4.000.000 đồng do vợ chồng M –T thiếu nhưng không được phía anh M thừa nhận, anh ác định không có nợ 9 000 000 đồng như bà D trình bày, chị T thì hoàn toàn không có ý kiến gì về vi c này, phía bà D cũng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh bà đã dùng số tiền 9 000.000 đồng để trả nợ cho anh M và chị T X t thấy căn nhà là tài sản chung của vợ chồng nên số tiền có được từ vi c cho thuê căn nhà là tài sản chung của vợ chồng; do đó nghĩ nên buộc bà D có nghĩa v trả l i cho anh M và chị T và chia đôi cho hai bên là phù hợp Như vậy bà D có nghĩa v giao l i cho anh M và chị T mỗi người 4 500 000 đồng

- Đối với các tài sản: 2 bộ bàn ghế gỗ ( 01 lo i nhỏ, 01 lo i lớn tay 7), 01 bộ bàn ghế đá, 01 tủ đựng ti vi,01 ti vi CRT hi u DARLING 21 inh, 01 ti vi LCD Panasonic lo i 30 inh,01 tủ để ly ch n gỗ t p anh M trình bày đ y là tài sản riêng của anh mang về nên anh in nhận l i T i biên bản ghi lời khai và h a giải ngày 12/6/2020 bà Nguyễn Thị D trình bày bà và chị T thừa nhận đ y là tài sản riêng của anh Mích và đồng ý cho anh lấy các tài sản trên về; đối với chị T trong các bản tự khai phía chị T cũng không có ý kiến gì về vi c nầy Do đó, nghĩ nên giao l i cho ông M được s hữu các tài sản trên là phù hợp

- Đối với tủ l nh bà D cho rằng đ y là tài sản do chị T mua nên không đồng ý giao l i cho anh M , phía chị Th oàn toàn không có ý kiến, t i phiên t a anh M thừa nhận anh có mang về 01 tủ l nh nhưng chị T chê cũ nên anh có bỏ tiền ra mua tủ mới hơn 5 000 000 đồng s d ng đến nay, anh in nhận tủ l nh và trả l i ½ giá trị tủ l nh theo định giá là 630.000 đồng (theo định giá ngày 9/7/2020 giá 1 260 000 đồng) X t thấy tủ l nh mua trong thời kỳ hôn nh n nay anh M cũng đồng ý ác lập tài sản chung vợ chồng và đồng ý chia đôi với chị T nhưng anh in nhận tủ l nh và giao l i giá trị cho chị T do đó nghĩ nên chấp nhận là phù hợp

Về nợ chung:

- Đối với số nợ anh Nguyễn Văn H: Anh M trình bày có nợ anh H 7 000 000 đồng, anh H cũng có bản tự khai trình bày có cho anh M mượn số tiền 7 000 000 đồng từ ngày 3/5/2015 Sau khi th lý v ki n t a án có nhiều lần mời anh H đến để h a giải, đối chất làm rõ về số nợ và đóng t m ứng án phí đối với yêu cầu nầy, nhưng phía anh H đều vắng mặt không có lý do, cũng không nộp t m ứng án phí Do đó căn cứ vào điểm d khoản 1 điều 192 và điểm d khoản 2 điều 227 Bộ luật tố t ng d n sự em như từ bỏ yêu cầu của mình nên Hội đồng t không xem xét, nếu anh H có yêu cầu đ i nợ thì sẽ được em t giải quyết trong v ki n khác (nếu thời hi u kh i ki n c n)

- Đối với lời khai chị Tvề số nợ 100 000 000 đồng của bà Nguyễn Thị D và 50 000 000 đồng của bà Nguyễn Thị X: Chị T trình bày quá trình y dựng căn nhà trên chị và anh M có mượn của bà Nguyễn Thị D 100 000 000 đồng và bà Nguyễn Thị X 50 000 000 đồng nhưng không được anh M thừa nhận, anh M xác định hoàn toàn không có nợ của bà D và bà X, phía chị T không có cung cấp chứng cứ để chứng minh thực tế có nợ, nhiều lần mời h a giải, đối chất làm rỏ số nợ nhưng phía chị T,bà D, bà X đều vắng mặt không có lý do nên không có cơ s để hội đồng t

em t, nếu bà D bà X có yêu cầu đ i nợ thì sẽ được em t giải quyết trong v ki n khác( nếu thời hi u kh i ki n c n)

Về chi phí định giá và th m định t i chỗ: Chi phí định giá và th m định t i chỗ là 1 000 000 đồng anh Nguyễn Văn M đã nộp t m ứng, t i phiên t a anh M đồng ý chịu chi phí nầy do đó được khấu trừ vào t m ứng chi phí ông M đã nộp t i biên bản thu ngày 22/6/2020 (anh M đã nộp ong)

Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và l phí T a án anh Nguyễn Văn M phải chịu 300 000đồng án phí hôn nh n gia đình và 5% án phí chia tài sản đối với tài sản được chia được khấu trừ t m ứng án phí đã nộp 2 300 000 đồng. Chị Ph m Minh T phải chịu 5% án phí chia tài sản đối với tài sản được chia Bà Nguyễn Thị D phải chịu 5% án phí d n sự sơ th m đối với số tiền phải trả cho anh M, chị T

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp d ng vào các Điều 51, 53, 56, 58,59, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nh n gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố t ng d n sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và l phí T a án

Tuyên xử:

1.Về hôn nh n: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn M.

Anh Nguyễn Văn M được ly hôn với chị Ph m Minh T Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 182/2013 ngày 26/9/2013 của Ủy ban nh n dân Xã B, Huy n Châu Thành, Tỉnh An Giang không c n giá trị pháp lý

2.Về con chung: Anh Nguyễn Văn M được tiếp t c nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị T, sinh ngày 21/8/2013. Chị Ph m Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui thăm con chung cho chị T.

3.Về Tài sản chung:

Chị Ph m Minh T được s hữu 01 căn nhà cấp 4 ngang 4m dài 16m tọa l c ấp Vĩnh Th nh ã Vĩnh Hanh, huy n Ch u Thành, Tỉnh An Giang đồng thời có nghĩa v giao l i giá trị ½ căn nhà 124 048 000 đồng cho anh Nguyễn Văn M; Anh Nguyễn Văn M có nghĩa v giao l i ½ giá trị tủ l nh là 630.000 đồng cho chị Ph m Minh T Như vậy chị Ph m Minh T có nghĩa v giao l i cho anh Ph m Văn M 123 418 000 đ (Một trăm hai mươi ba tri u bốn trăm mười tám ngàn đồng).

Chị Ph m Minh T có nghĩa v giao l i cho anh Nguyễn Văn M được s hữu 2 bộ bàn ghế gỗ ( 01 lo i nhỏ,01 lo i lớn tay 7), 01 bộ bàn ghế đá, 01 tủ đựng ti vi,01 ti vi CRT hi u DARLING 21 inh, 01 ti vi LCD Panasonic lo i 30 inh,01 tủ để ly ch n gỗ t p và 01 tủ l nh hi u Sanyo lo i 165 lít

Bà Nguyễn Thị D có nghĩa v giao l i cho anh Nguyễn Văn M và chị Ph m Minh T mỗi người 4 500 000đ( bốn tri u năm trăm ngàn đồng)

4.Về chi phí định giá và th m định t i chổ: Công nhận sự tự nguy n của anh Nguyễn Văn M chịu chi phí định giá và th m định t i chổ là 1 000 000 đồng khấu trừ vào t m ứng chi phí ông M đã nộp t i biên bản thu ngày 22/6/2020 ( anh Mích đã nộp ong)

5.Về án phí: Anh Ph m Văn M phải chịu 300 000đ án phí hôn nh n gia đình sơ th m và 6 458 000đ án phí chia tài sản Tổng cộng 6 758 000 đồng tiền án phí được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí đã nộp 2 300 000đồng t i biên lai thu số 0004508 ngày 01/10/2019 của Chi c c thi hành án d n sự huy n Châu Thành, tỉnh An Giang. Như vậy anh Nguyễn Văn M c n phải nộp 4 458 000đ (bốn tri u bốn trăm năm mươi tám ngàn đồng) tiền án phí

Chị Ph m Minh T phải chịu 6 458 000 đ (sáu tri u bốn trăm năm mươi tám ngàn đồng) án phí chia tài sản chung

Bà Nguyễn Thị D phải chịu 450 000đ (bốn trăm năm mươi ngàn đồng) án phí d n sự sơ th m

Anh Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án, và Chị Ph m Minh T, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đ t hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định t i Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án d n sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án d n sự

Cỡ chữ