- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành P - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị số 14/QĐ-CV2 ngày 9-4-2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 305 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 415/2021/HS-PT Ngày: 18 - 10 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Cầu
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Kim Nhân
Ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.
Vào ngày 18 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 258/TLPT-HS ngày 18-3-2021 đối với bị cáo Nguyễn Thành P về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Do có kháng nghị của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 15-3-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
* Bị cáo có kháng nghị:
Nguyễn Thành P, sinh năm 1981 tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố: Không rõ; mẹ: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956; vợ: Trần Thị H, sinh năm 1984 và có 03 con: Lớn nhất 06 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-8-2018 đến ngày 18-12-2018 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1984 (vợ bị cáo P); trú tại: Thôn K, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956 (mẹ bị cáo P); trú tại: Thôn T1, xã G1, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22-8-2018, Nguyễn Thành P thuê xe taxi do anh Hoàng Quốc K1 điều khiển chở P từ thành phố Đ1 đến xã P1, huyện P2, tỉnh Thừa Thiên Huế để mua 03 bao thuốc nổ có trọng lượng 80kg với giá 12 triệu đồng (150.000đ/lkg) của đối tượng tên Hùng (không rõ lai lịch). Sau đó, anh K1 chở P cùng 03 bao thuốc nổ về cất giấu ở đồi cát trước nhà anh Nguyễn Quang T3 ở thôn T2, xã G3, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Ngày 26-8-2018, Nguyễn Thành P đến vị trí cất giấu 03 bao thuốc nổ đã mua vào ngày 22-8-2018 để lấy 02 bao (khoảng 40kg) thuốc nổ bán cho người tên Hoàng (không rõ lai lịch) tại làng Nh, xã G3, huyện G với giá 8.000.000 đồng (200.000đ/kg).
Ngày 29-8-2018, Nguyễn Thành P tiếp tục đến xã P1, huyện P2, tỉnh Thừa Thiên Huế mua của đối tượng tên Hùng 40 kg thuốc nổ với giá 06 triệu đồng (150.000đ/kg). P trả trước cho Hùng 05 triệu đồng và nợ lại 01 triệu đồng. Sau đó, P về nơi cất giấu số thuốc nổ đã mua lần trước lấy bao thuốc nổ còn lại và thuê xe taxi do anh Lê Phước Tứ điều khiển chở 03 bao thuốc nổ cùng với P ra thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình để bán cho một người phụ nữ tên Xanh (không rõ lai lịch) với giá 200.000đ/kg. Khi anh Tứ điều khiển xe ô tô đến địa phận xã V, huyện V1, tỉnh Quảng Trị thì bị Công an tỉnh Quảng Trị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 03 bao gai màu da cam có trọng lượng 81kg.
Tại Bản kết luận giám định số 542/KLGĐ ngày 05/9/2018, Phòng PC09-Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Chất rắn cục màu xanh được niêm phong trong 03 phong bì ký hiệu Bl, B2, B3 gửi đến giám định có thành phần chính là thuốc nổ Trinitroluen “thuốc nổ TNT” còn sử dụng được. Tính năng tác dụng: thuốc nổ có sức công phá mạnh, thường được nhồi vào bom đạn phục vụ cho mục đích quân sự, tăng cường độ phá đất đá...
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 15-3-2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành P 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thành P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định Kháng nghị số 14/QĐ-CV2 ngày 09-4-2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm kháng nghị hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST ngày 15-3-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị để xét xử sơ thẩm lại theo điểm a khoản 4 Điều 305 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với Nguyễn Thành P.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 161/2019/HSPT ngày 12-6-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã quyết định: không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST ngày 15-3-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 05/QĐ-VKSTC-V7 ngày 25-5-2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định: Kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 161/2019/HSPT ngày 12-6-2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HSST ngày 15-3-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị để điều tra, xử lý về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành P và tăng hình phạt đối với bị cáo bảo đảm đúng quy định của pháp luật.
Ngày 22-01-2021, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hà Nội chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hủy Bản án phúc thẩm số 161/2019/HSPT ngày 12-6-2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Giao cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18-10-2021, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút phần đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành P theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 305 Bộ luật Hình sự và đề nghị tăng hình phạt đối với Nguyễn Thành P theo điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa bản án sơ thẩm.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, xét thấy: Lời khai nhận tội của Nguyễn Thành P phù hợp với lời khai của những người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 29-8-2018, Nguyễn Thành P thuê xe taxi để vận chuyển 81kg thuốc nổ TNT ra thành phố Đ2, tỉnh Quảng Trị để bán cho một người phụ nữ tên Xanh thì bị Công an tỉnh Quảng Trị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng; quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Thành P khai nhận đã mua thuốc nổ 02 lần vào ngày 22 và 29-8-2018 lần lượt 80kg, 40kg, tổng là 120 kg; bị cáo bán 40/80 kg thuốc nổ nêu trên cho Hoàng ở làng Nh, xã G3, huyện G. Tuy nhiên, quá trình điều tra, bị cáo cho rằng do mới bị bắt hoảng loạn nên khai không chính xác, thực tế bị cáo chỉ mua một lần duy nhất 81kg thuốc nổ TNT và đã bán kiếm lợi nhuận. Mặt khác, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không chứng minh được Nguyễn Thành P mua thuốc nổ của Hùng để bán cho Hoàng và vật chứng cũng không thu hồi được. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Nguyễn Thành P về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 305 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng pháp luật.
Như phân tích ở phần [2], Nguyễn Thành P có hành vi mua, bán thuốc nổ một lần nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân lao động nhận thức về pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khối lượng thuốc nổ TNT có nguồn gốc từ những quả bom do chiến tranh còn sót lại do người dân thu gom bán cho Nguyễn Thành P để P bán lại cho người khác nhằm hưởng tiền chênh lệch; mẹ của bị cáo là người có công với Nhà nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hiện nay đã già, thường xuyên đau ốm; sau khi phạm tội bị cáo chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được xã T xác nhận và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ Luật hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng để xử phạt bị cáo là đúng. Song, mức xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo đối với Nguyễn Thành P của Tòa án cấp sơ thẩm là quá nhẹ so với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng có cơ sở chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành P.
Về án phí:
Do sửa bản án hình sự sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Thành P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận một phần kháng nghị số 14/QĐ-CV2 ngày 9-4-2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 15-3-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành P. Tuyên xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành P 05 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là 03 (ba) tháng 19 (mười chín) ngày (từ 29-8-2018 đến 18-12-2018).
2. Bị cáo Nguyễn Thành P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 18 - 10 - 2021./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Quảng Trị; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Quảng Trị; - Cơ quan CSTHAHS - CA tỉnh Quảng Trị; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Cục THADS tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thúy Cầu |