- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Kim Y-Le Huy H"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 414/2019/HNST |
Ngày: 23/4/2019
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh.
2. Bà Lê Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh - 26 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2018/TLST-HNGĐ ngày 30
tháng 3 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 6200/2018/QĐXXST-HN ngày 24 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn
phiên toà số 201/2019/QĐST-DS ngày 22/01/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim Y, sinh năm 1993; nơi cư trú: 78
đường 26, Phường U, Quận I, Thành phố H(vắng mặt – có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Le Huy H, sinh năm 1982; nơi cư trú: 6 Magnolia Way S
SVic 3172 A (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/3/2018 và bản tự khai, nguyên đơn bà Phạm
Thị Kim Y trình bày:
Bà và ông Le Huy H tự nguyện đăng ký kết hôn số 2152 ngày 31/8/2015
tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 2017, vợ chồng đã không
còn sống chung. Hai bên đã không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà
xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.
Về con chung: không có.
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: bà Phạm Thị Kim Y
ký đơn yêu cầu được ly hôn. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 quy định: “Vợ chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Ông Le Huy H đang cư trú ở nước ngoài. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
2. Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim Y và ông Le Huy H có
đăng ký kết hôn. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng, thông
báo về việc Toà án thụ lý vụ án, thời gian mở phiên họp hoà giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án. Tại công văn số 3723/BTP-PLQT ngày 10/12/2018 Bộ tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp: “Cơ quan có thẩm quyền của Australia đã thực hiện ủy thác tư pháp vào ngày 20/9/2018 bằng phương thức: Tống đạt hồ sơ trực tiếp cho đương sự”.
Toà án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6200/2018/QĐXXST-HN
ngày 24 tháng 12 năm 2018, thông báo thời gian mở phiên toà là ngày 22/01/2019. Quyết định đưa vụ án ra xét xử này đã được thông báo trong văn bản ủy thác tư pháp cho ông Hnhưng ông H vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà lần thứ 1 theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và ấn định thời hạn mở phiên toà lần thứ hai là ngày 23/4/2019. Tuy nhiên, đến hôm nay, Toà án không nhận được ý kiến phản hồi của ông H và ông Huu tiếp tục vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành đúng trình tự quy định của pháp
luật. Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Xét thấy, cuộc sống chung giữa bà Y và ông H không hạnh phúc, cả hai
thực tế đã không sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Toà để giải quyết vụ án, đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ. Đây là cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa bà Y
và ông H không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ khoản 1 Điều
122, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 chấp nhận yêu cầu ly
hôn của bà Phạm Thị Kim Y như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 48 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016. Căn cứ khoản 1, Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án; khoản
08 Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí có hiệu lực, bà Y phải chịu án phí Dân sự
sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Căn cứ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 122 luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37,
khoản 1, 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 3 Điều 479
Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
Căn cứ Điều 48 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Căn
cứ khoản 1, Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án; khoản 8 Điều 27 Pháp
lệnh về án phí, lệ phí có hiệu lực ngày 01/7/2009.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Kim Y.
a) Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị Kim Y được ly hôn với ông Le Hu.
Giấy chứng nhận kết hôn số 2152 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh cấp ngày 31/8/2015 không còn giá trị pháp lý.
b) Về con chung: không có.
c) Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Kim Y phải chịu án phí ly hôn
sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0044063 ngày 27/3/2018 của
Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị Kim Y đã nộp
đủ án phí.
3. Các quyền và nghĩa vụ về việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan
Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Bà Phạm Thị Kim Y được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Ông Le Huy
Huu được quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP. HCM; - Cục THADS TP. HCM; - Các đương sự; - UBND TP.HCM; - Lưu: VT, HS (T/20). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Điệp |