vanban.org

Bản án 413/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2.

1. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Q tín dụng nhân dân Đức Hòa số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 29/9/2025 là 11.380.800 đồng (Mười một triệu ba trăm tám mươi nghìn tám trăm đồng), trong đó nợ gốc là 6.673.000 đồng và nợ lãi là 4.707.800 đồng. 2. Buộc ông N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Quỹ tín dụng Đ tranh chấp HĐ tín dụng Nguyễn Văn H1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 413/2025/DS-ST
Ngày: 29-9-2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Ghên; Bà Lại Thị Thu Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bình Em – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2025/TLST-DS, ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 459/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 327/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Đ;

Trụ sở: Ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc Đ – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trọng H - Chức vụ: Cán bộ thẩm định.

Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1998;

2. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982;

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã M, tỉnh Tây Ninh.

(Ông H có mặt, ông H1, bà H2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Đ do ông Trần Trọng H đại diện trình bày như sau:

Theo Giấy đề nghị vay vốn ngày 07/01/2019 của ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2, Q tín dụng nhân dân Đức H3 có cho vay vốn theo Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký kết ngày 11/01/2019 giữa ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 với Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3, cụ thể như sau: Số tiền vay là 15.000.000 đồng; Mục đích vay sinh hoạt, tiêu dùng gia đình; Lãi suất 15.6%/năm; Lãi phạt quá hạn 23.4%/năm; Thời hạn vay 13 tháng (kể từ ngày 11/01/2019); Phương thức trả nợ là trả góp hàng tháng, gốc lãi chia đều. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi (vi phạm Điều 8: Hợp đồng cho vay trả góp). Qua nhiều lần nhắc nhở, nhưng ông H1, bà H2 vẫn không có thiện chí trả nợ, không thực hiện đúng theo Hợp đồng cho vay đã ký kết.

Tính đến hết ngày 29/9/2025, ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã thanh toán được 8.911.400 đồng, như vậy số tiền ông H1 và bà H2 còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 là 11.380.800 đồng, trong đó nợ gốc là 6.673.000 đồng và nợ lãi là 4.707.800 đồng.

Nay Quỹ tín dụng nhân dân Đ khởi kiện yêu cầu:

- Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải liên đới trả lại cho Q tín dụng nhân dân Đức Hòa số tiền tính đến hết ngày 29/9/2025 là: 11.380.800 đồng, trong đó nợ gốc là 6.673.000 đồng và nợ lãi là 4.707.800 đồng theo Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký kết ngày 11/01/2019.

- Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục liên đới trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký kết ngày 11/01/2019 giữa bà H2, ông H1 với Quỹ tín dụng nhân dân Đ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, kết quả hòa giải không được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định không cung cấp chứng cứ, tài liệu mới, không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải trả lại cho Q tín dụng nhân dân Đức Hòa số tiền là: 11.380.800 đồng, trong đó nợ gốc là 6.673.000 đồng và nợ lãi là 4.707.800 đồng theo Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký ngày 11/01/2019 giữa ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 với Quỹ tín dụng nhân dân Đ. Bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 cư trú tại xã M, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H1 và bà H2 theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về phạm vi giải quyết: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Đ1 khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải liên đới trả lại cho Q tín dụng nhân dân Đức Hòa số tiền là: 11.380.800 đồng, trong đó nợ gốc là 6.673.000 đồng và nợ lãi là 4.707.800 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng hai bên ký kết, không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Đ về yêu cầu trả tiền gốc và lãi vay theo Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký ngày 11/01/2019 giữa Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 với ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2, thấy rằng:

Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký ngày 11/01/2019 giữa Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 với ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các quy định về nội dung và hình thức, không trái quy định của pháp luật, đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng được ký kết giữa hai bên có hiệu lực, các bên tham gia trong giao dịch có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 và bà H2 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, liên tục không trả nợ gốc, lãi trong nhiều kỳ. Mặc dù Quỹ tín dụng nhân dân Đ đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H1 và bà H2 vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ, làm cho quyền lợi của Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 bị xâm phạm. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 về việc buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 trả nợ gốc, lãi là có căn cứ chấp nhận, phù hợp theo quy định tại Điều 463 và 466, 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lãi suất được tiếp tục tính kể từ ngày 30/9/2025 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay cho đến khi ông H1 và bà H2 thanh toán xong khoản nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 463, 466, 468 ; Điều 91, 95 ; Điều 7, 8, 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/03/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Đức H3 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2.

1.1. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 có nghĩa vụ liên đới trả cho Q tín dụng nhân dân Đức Hòa số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 29/9/2025 là 11.380.800 đồng (Mười một triệu ba trăm tám mươi nghìn tám trăm đồng), trong đó nợ gốc là 6.673.000 đồng và nợ lãi là 4.707.800 đồng.

1.2. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải tiếp tục liên đới trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 30/9/2025 cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ theo mức lãi suất do hai bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 1-0017854 ký ngày 11/01/2019 giữa ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 với Quỹ tín dụng nhân dân Đ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2 phải liên đới chịu 569.040 đồng (Năm trăm sáu mươi chín nghìn không trăm bốn mươi đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn trả lại cho Q tín dụng nhân dân Đức Hòa số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000140 ngày 08/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ