- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chung Thanh P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Chung Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:413/2021/HS-ST Ngày: 21-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bé và ông Lê Văn Công
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 433/2021/HSST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 435/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Chung Thành P, sinh năm: 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cƣ trú: Số 127/68/1 đƣờng A, phƣờng B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chung Văn H, sinh năm 1948 (chết) và bà Dƣơng Ái M, sinh năm 1958 (chết); vợ Nguyễn Thị L (đã ly hôn); bị cáo có 01 ngƣời con sinh năm 2001;
Tiền án: Ngày 18/9/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (theo bản án số 132/2019/HSST), chấp hành xong án phạt tù ngày 28/4/2021.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/5/2012 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (theo bản án số 91/2012/HSST), chấp hành xong án phạt tù ngày 13/01/2014.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/5/2021 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Ngƣời chứng kiến: Phạm Hoàng T, sinh năm 1993, vắng mặt.
Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 2008, vắng mặt.
Ngƣời đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; nơi cƣ trú: Số 126/12 liên khu 10-11, khu phố C, phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 22 giờ 35 phút, ngày 27/5/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Thuận An phối hợp Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Bình Dƣơng cùng Công an phƣờng Bình Chuẩn tuần tra đến đoạn đƣờng Bình Chuẩn 62 thuộc khu phố Bình Phƣớc B, phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Chung Thành P, sinh năm 1978, nơi cƣ trú số 127/68/1 đƣờng A, phƣờng B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS (không gắn biển số) chở phía sau Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 2008, nơi cƣ trú số 126/12 Liên khu 10-11, phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, P khai nhận có cất giấu ma túy, đồng thời P lấy từ bên trong nón kết màu xanh-xám-đen của P đang đội trên đầu ra 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp) giao nộp cho lực lƣợng công an và P khai nhận gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá của P cất giấu để sử dụng. Lực lƣợng Công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, tạm giữ đối với Chung Thành P và đƣa P về trụ sở Công an để làm việc.
Tang vật thu giữ của Chung Thành P gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 (một) nón kết màu xanh-xám-đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS (không gắn biển số).
Tại bản kết luận giám định số 287/MT-PC09 ngày 02/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng: 0,1463 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Chung Thành P khai nhận: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 27/5/2021, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS (không gắn biển số) chạy từ địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh qua địa bàn tỉnh Bình Dƣơng chơi. Khi đến khu vực vòng xoay An Phú, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp 01 nhóm thanh niên (không rõ lai lịch) đang gây gổ đánh nhau. P đứng lại xem đến khi nhóm thanh niên trên bỏ đi thì P có nhặt đƣợc 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng ở gần vị trí nhóm thanh niên vừa gây gổ đánh nhau. Do có sử dụng ma túy nên P biết gói nylon chứa tinh thể màu trắng trên là ma túy đá. P cất giấu gói ma túy trên vào trong chiếc nón kết của P đội lên đầu, mục đích để khi cần sẽ lấy ra sử dụng, sau đó P điều khiển xe đi đón em gái tên Nguyễn Thị Ngọc M để cùng đi ăn tối. Khi cả hai đi đến đoạn đƣờng Bình Chuẩn 62 thuộc khu phố Bình Phƣớc B, phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An thì bị lực lƣợng công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Việc P cất giấu số ma túy trên trong ngƣời thì M không biết.
Tại bản Cáo trạng số 435/CT-VKS -TA ngày 19 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Chung Thành P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Chung Thành P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 287/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Chung Thành P, cán bộ giao mẫu Trƣơng Minh Hùng, cán bộ nhận mẫu Ngô Minh Tuấn và hình dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, 01 (một) nón kết màu xanh - xám - đen đã thu giữ của Chung Thành P.
Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, số máy E32VE-221431, số khung RLCUE3710LY115680 thu giữ của Chung Thành P. Quá trình điều tra, P khai đã mƣợn chiếc xe trên của 01 ngƣời em tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 26/5/2021 tại khu vực phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để đi công việc. Cơ quan điều tra đã truy nguyên số khung, số máy xe trên nhƣng không tìm thấy thông tin dữ liệu ngƣời đứng tên chủ sở hữu. Theo đó, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu xe trên theo quy định nhƣng đến nay vẫn không có ngƣời đến liên hệ giải quyết nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc chiếc xe trên.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang ngày 27/5/2021 (BL 21,22), và các biên bản ghi lời khai ngày 28/5/2021, ngày 02/6/2021 và ngày 08/7/2021 (thể hiện từ BL số 59 đến BL 64). Bị cáo Chung Thành P đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ngƣời chứng kiến. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 22 giờ 35 phút ngày 27/5/2021, tại đoạn đƣờng Bình Chuẩn 62 thuộc khu phố Bình Phƣớc B, phƣờng Bình Chuẩn, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Chung Thành P đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1463 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Chung Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ngƣời nào sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng. Ngoài ra còn gây tha hóa biến chất, tạo nên gánh nặng cho xã hội, đồng thời việc sử dụng ma túy là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, hậu quả làm mất trật tự, trị an tại địa P. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi vi phạm pháp luật Hình sự, xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc. Bị cáo nhận thức đƣợc tất cả những hành vi trên nhƣng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy để sử dụng, bất chấp hậu quả xảy ra. Bản thân bị cáo đã từng bị kết án về tội này nhƣng không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm để làm ngƣời có ích cho xã hội, nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy phải xét xử mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù vào năm 2019, chƣa đƣợc xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Nguyễn Thị Ngọc M ngƣời đi cùng với bị cáo P nhƣng không biết việc P cất giấu ma túy nên cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật. Đối với hành vi sử dụng ma túy của Nguyễn Thị Ngọc M, tại thời điểm phát hiện M chƣa đủ 15 tuổi nên không xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với M.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 287/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Chung Thành P, cán bộ giao mẫu Trƣơng Minh Hùng, cán bộ nhận mẫu Ngô Minh Tuấn và hình dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, 01 (một) nón kết màu xanh - xám- đen đã thu giữ của Chung Thành P.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, số máy E32VE-221431, số khung RLCUE3710LY115680 thu giữ của Chung Thành P.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Chung Thành P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Chung Thành P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 5 năm 2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong ký hiệu số 287/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Chung Thành P, cán bộ giao mẫu Trƣơng Minh Hùng, cán bộ nhận mẫu Ngô Minh Tuấn và hình dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, 01 (một) nón kết màu xanh - xám- đen.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS-BGY1, dung tích xi lanh 110cm3, số máy E32VE-221431, số khung RLCUE3710LY115680, mang biển kiểm soát: không, không chìa khóa.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 11 năm 2021 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thuận An và Công an thành phố Thuận An).
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Chung Thành P phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chánh án; - Bị cáo; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu:HS,THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thu Thảo |