vanban.org

Bản án 413/2019/DS-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 11/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K.

Chấp nhận toàn bộ kháng ngh của Viện trưởng Viện ki m sát nhân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Sửa bản án dân sự s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng tháp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên h…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 413/2019/DS-PT
Ngày: 11-11-2019
"V/v tranh chấp dân sự về chia thừa
kế tài sản; Hợp đồng thuê nhà ở và
yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Giao.

Các Thẩm phán:

Ông Trần Phước Hội.

Ông Nguyễn Tấn Tặng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Th Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đ i di n i n ki m sát nh n d n t nh Đồng Tháp: Ông ê Thành Biên – i m sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 08/10/2019, ngày 01/11/2019, ngày 07/11/2019 và ngày 11/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2019/T PT-DS ngày 28 tháng 6 năm 2019, về việc: “Tranh chấp dân sự về chia thừa kế tài sản; Hợp đồng thuê nhà ở và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”;

Do Bản án dân sự s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng tháp b kháng cáo;

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 331/2019/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2019, Quyết đ nh hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 350/2019/QĐ-PT ngày 18 tháng 9 năm 2019, Quyết đ nh tạm ngừng phiên tòa số: 439/2019/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2019 và Quyết đ nh tạm ngừng phiên tòa số: 390/2019/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2019, giữa các đư ng sự:

1. Nguyên đ n: Bà Nguyễn Th im T, sinh năm 1974;

Đ a chỉ: Số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Đ a chỉ liên hệ: Số E, đường .Đ.H, phường M.P, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n Nguyễn Th Kim T là bà Võ Th N, sinh năm 1957 (Có mặt);

Đ a chỉ: Số G, T.H.D, khóm H, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 07/6/2019).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đ n Nguyễn Th im T là uật sư Phạm Hữu – Công ty uật hợp danh A.E uật sư, thuộc Đoàn uật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

2. B đ n: Bà ê Th Thu H, sinh năm: 1963;

Đ a chỉ: Số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của b đ n ê Th Thu H là ông ê hắc C1, sinh năm: 1979 (Có mặt);

Đ a chỉ: Tầng N, Tòa nhà B.F, Số O, H.T, phường B.N, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 05/6/2018).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Nguyễn ê Xuân H. , sinh năm: 1997;

3.2. Nguyễn ê Xuân H. , sinh năm: 2005;

Đại diện theo pháp luật của Nguyễn ê Xuân H.K là bà ê Th Thu H, sinh năm: 1963 (Có mặt);

Cùng đ a chỉ: Số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn ê Xuân H. là ông ê hắc C1, sinh năm: 1979 (Có mặt);

Đ a chỉ: Tầng N, Tòa nhà B.F, Số O, H.T, phường B.N, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 05/6/2018).

3.3. Nguyễn ê Xuân T1, sinh năm: 1981;

Đ a chỉ: Số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3.4. Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm: 1986;

Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Minh T2 là ch Trần Th Ngọc M, sinh năm 1988 (Có mặt);

Cùng đ a chỉ: Số K, Tổ Q, khóm I, phường X, thành phố C, Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 31/10/2019).

3.5. Anh Nguyễn Minh T3, sinh năm: 1983 (Có mặt);

3.6. Ch Nguyễn ê Th Tú T4, sinh năm: 1989;

Cùng đ a chỉ: Số Y, đường .D, phường M.P, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ê Th Tú T4 và Nguyễn ê Xuân T1 là ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1962 (Có mặt);

Đ a chỉ: Số V, đường .D, phường M.P, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản ủy quyền cùng ngày 17/9/2019).

3.7. Bà Tô Th Thúy N1, sinh năm: 1969 (Vắng mặt);

Đ a chỉ: Số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3.8. Phòng Công chứng số 01 tỉnh Đồng Tháp (Có đ n xin vắng mặt);

Đ a chỉ: Số Đ, đường H.V, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3.9. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (Có đ n xin vắng mặt);

Đ a chỉ: Số S, đường T, Phường U, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

4. Người kháng cáo: Bà ê Th Thu H và Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn Lê Xuân H. ( à b đ n và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án).

5. Người kháng ngh : Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C.

NỘI DUNG V ÁN:

- Người đ i di n theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T là bà õ Thị N trình bày:

Di sản của bà Nguyễn Th D1 đ lại là 01 căn nhà và đất tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà năm 2003 do bà Nguyễn Th D1 đứng tên. Đất có diện tích 68.3m2 thuộc thửa số 01, tờ bản đồ số 13.

Cha mẹ bà Nguyễn Th im T là ông Nguyễn Văn V1 (chết năm 2003) và bà Nguyễn Th D1 (chết năm 2013) đều không đ lại di chúc. Bà D1 có 03 người con gồm: Bà Nguyễn Th im T, ông Nguyễn Minh K1 (chết 2015) và bà ê Th T5 (chết năm 2007).

Ông K1 có 02 người con là Nguyễn ê Xuân H. và Nguyễn ê Xuân H.K và vợ ông K1 là bà ê Th Thu H. Bà ê Th T5 có 04 người con là: Nguyễn ê Xuân T1, Nguyễn Minh T3, Nguyễn Minh T2, Nguyễn ê Th Tú T4.

Khi bà D1 chết gần 02 tháng thì bà ê Th Thu H tự ý thay bà D1 đứng chủ hộ và quản lý nhà, đất là di sản của bà D1. Nay bà Nguyễn Th im T yêu cầu được nhận 1/3 tài sản thừa K1 là nhà và đất tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Bà T yêu cầu nhận hiện vật và trả giá tr cho những người thừa K1 theo quy đ nh pháp luật.

Bà Nguyễn Th im T có đ n bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:

Diện tích đất tranh chấp khi đăng ký quyền sử dụng đất, gia đình thống nhất tài sản này là tài sản chung của hộ gia đình và ngày 26/5/2000 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ, do bà Nguyễn Th D1 đứng tên đại diện hộ. Năm 2003 đổi giấy chứng nhận, ngày 24/6/2003 UBND th xã C vẫn cấp thửa đất này cho gia đình bà T.

Năm 2013, bà Nguyễn Th D1 chết, lúc này bà T mới phát hiện ngày 17/12/2003 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp đổi quyền sử dụng thửa đất này cho cá nhân mẹ bà T chứ không còn của hộ. Việc cấp đổi này bà T không biết mà lại tước quyền sử dụng của bà T là thành viên của hộ gia đình, nên bà T cho rằng việc cấp đổi này là không đúng. Vì vậy bà T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở ngày 17/12/2003 do UBND tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà D1 và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình như trước đây.

Ngoài tranh chấp tài sản thừa K1 là nhà và đất tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thì không có tranh chấp tài sản nào khác.

Bà Tô Th Thúy N1 là người đang chiếm giữ nhà đất là di sản đang tranh chấp, do trước đây bà N1 thuê từ mẹ bà T và sau khi mẹ bà T chết thì anh bà T là Nguyễn Minh K1 tiếp tục ký cho thuê. Từ khi mẹ bà T chết từ ngày 29/5/2013 cho đến ngày 01/6/2016 là 03 năm, theo hợp đồng thuê nhà bà N1 ký thuê từ ông K1 với giá thuê là 7.500.000 đồng/tháng. Tổng giá tr tiền thuê tính đến ngày 01/6/2016 là 7.500.000 đồng x 36 tháng = 270.000.000 đồng. Bà T yêu cầu bà Tô Th Thúy N1 chấm dứt hợp đồng thuê nhà giữa bà N1 và ông Nguyễn Minh K1 và giao quyền quản lý ngôi nhà lại cho bà T và bà N1 thanh toán tiền thuê nhà cho bà T là 270.000.000 đồng: 3 = 90.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà T rút yêu cầu đối với việc yêu cầu bà N1 trả số tiền thuê nhà 90.000.000 đồng và chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Đồng thời, yêu cầu bà H phải trả số tiền 90.000.000 đồng cho bà T.

Bà T cho rằng tờ di chúc của bà D1 lập ngày 10/6/2004 do b đ n cung cấp không phải là di nguyện của bà D1, do chứng minh nhân dân của mẹ bà dùng trong bản di chúc đã hết hạn sử dụng, hộ khẩu thường trú và đ a chỉ nhà đất là một nhưng trong di chúc không giống nhau, họ tên, năm sinh, đ a chỉ của người thừa K1 không đúng thực tế, chữ ký, dấu vân tay được cho là của mẹ bà thì không phải là của mẹ bà. Vì vậy nay bà T yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đối với bản di chúc ngày 10/6/2004.

Tại văn bản lấy lời khai ngày 17/01/2019, bà Nguyễn Th im T trình bày:

Việc bà D1 lập di chúc cho tài sản cho Nguyễn Minh K1, sinh năm 1963 bà T không biết, đồng thời người tên Nguyễn Minh K1 không phải là anh trai bà T vì anh trai bà họ ê và sinh năm 1961, còn họ Nguyễn là họ của cha bà T. Bà Nguyễn Th D1 chỉ có duy nhất 01 người con trai tên ê Văn K1, bà T xác đ nh bà D1 hoàn toàn không có con trai nào khác.

- Người đ i di n theo ủy quyền của bà Lê Thị Thu H, chị Nguyễn Lê Xuân H.K là ông Lê Khắc C1 trình bày t i cấp sơ thẩm:

- Về những người trong hàng thừa K1 thứ nhất của bà D1 gồm: Ông Nguyễn Minh K1 chết năm 2015; bà ê Th T5, chết năm 2007 và Nguyễn Th Kim T. Ngoài ra không còn ai khác.

Thống nhất theo trình bày của nguyên đ n hàng thừa K1 thứ nhất của ông K1 và bà T5. Ông K1 đã sang Hoa ỳ đ nh cư khoảng năm 1990 (không nhớ rõ) và đã nhập Quốc t ch, chết tại Hoa ỳ vào năm 2015.

- Về di sản thừa K1 của bà Nguyễn Th D1 là nhà và đất tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp thì bà ê Th Thu H đã quản lý từ khi bà Nguyễn Th D1 còn sống cho đến nay.

Ông Nguyễn Minh K1 là người được hưởng thừa K1 theo di chúc của bà Nguyễn Th D1, nay ông Nguyễn Minh K1 đã chết vì vậy những người thừa K1 hợp pháp của ông Nguyễn Minh K1 được hưởng thừa K1 toàn bộ tài sản do ông Nguyễn Minh K1 tạo lúc còn sống.

Nên nay không đồng ý theo yêu cầu của bà ê Th im T và yêu cầu nhận di sản thừa K1 theo di chúc ngày 10/06/2004 do Văn phòng công chứng số 1 tỉnh Đồng Tháp chứng nhận.

- Bà D1 người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được c quan có thẩm quyền cấp hợp pháp. Di chúc của bà D1 được lập tại phòng công chứng, được chứng thực hợp pháp và người thừa K1 theo di chúc của bà D1 là hợp pháp. Di sản thừa K1 của bà D1 theo nội dung di chúc là hợp pháp. Đề ngh Tòa án bác yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Lê Xu n T1, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Minh T3, Nguyễn Lê Thị Tú T4 trình bày t i cấp sơ thẩm:

Bà ê Th T5 chết năm 2007, bà T5 có 4 người con là Nguyễn ê Xuân T1, Nguyễn Minh T3, Nguyễn Minh T2, Nguyễn ê Th Tú T4, về những người trong hàng thừa K1 thống nhất lời trình bày của nguyên đ n, không trình bày gì thêm. Đối với tài sản thừa K1 là nhà và đất thống nhất theo yêu cầu của bà T là các anh em được nhận 1/3 giá tr nhà và đất, yêu cầu nhận hiện vật và đồng ý trả giá tr cho các đồng thừa K1. Tuy nhiên, ngày 12/5/2016 tòa án ra thông báo T1, T2, T3, T4 nộp đ n khởi kiện bổ sung nhưng không nộp đ n yêu cầu.

- Đ i di n Phòng Công chứng số 1 t nh Đồng Tháp trình bày:

Việc công chứng đối với di chúc ngày 10/06/2004 của bà Nguyễn Th D1 là phù hợp với quy đ nh pháp luật nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đ n.

- Ủy ban nh n d n t nh Đồng Tháp trình bày: Việc cấp đổi quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở từ hộ sang cá nhân bà D1 đứng tên vào ngày 17/12/2003 là phù h p pháp luật tại thời đi m cấp đổi.

Tại bản án dân sự s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng tháp đã quyết đ nh tuyên xử:

- Áp dụng:

Các Điều 26, 34, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 158, 161, 162, 165, 166, 217, 228 và 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 631, 633, 635, 636, 645, 674, 675, 676, 677 và 685 Bộ luật dân sự năm 2005;

Các Điều 357, 468 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 26 và 27 Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Nguyễn Th im T về việc yêu cầu bà Tô Th Thúy N1 trả số tiền thuê nhà 90.000.000 đồng và chấm dứt hợp đồng thuê nhà giữa bà Tô Th Thúy N1 với ông Nguyễn Minh K1.

- hông chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Th im T về việc yêu cầu: Tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đối với di chúc do bà Nguyễn Th D1 lập ngày 10/6/2004; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trên đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Nguyễn Th D1 ngày 17/12/2003 và yêu cầu bà ê Th Thu H trả số tiền 90.000.000 đồng.

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Th im T về việc yêu cầu chia thừa K1:

Bà Nguyễn Th im T được hưởng 01 phần di sản chia thừa K1 tư ng đư ng số tiền: 603.200.000 đồng. Nhưng bà T được nhận bằng hiện vật và được quyền sử dụng đất có diện tích 65m2 và quyền sở hữu căn nhà cấp 3 gắn liền trên đất, trong phạm vi từ các mốc 1, 2, 3, 4 đến mốc 1, thuộc thửa số 01, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

( èm theo biên bản xem xét thẩm đ nh và s đồ đo đạc ngày 07/4/2016 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Tháp).

Đư ng sự có quyền và nghĩa vụ đến c quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với tài sản mình được nhận và ch u trách nhiệm nộp các khoản thu theo quy đ nh pháp luật.

Bà Nguyễn Th im T có nghĩa vụ trả giá tr tài sản cho bà ê Th Thu H; Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H. tư ng ứng với số tiền là 603.200.000 đồng (Sáu trăm lẽ ba triệu hai trăm nghìn đồng).

từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với trường hợp c quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đ nh thi hành án) hoặc k từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải ch u khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Án phí dân sự s thẩm:

+ Bà Nguyễn Th im T phải nộp 33.028.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền 33.440.000 đồng đã nộp tạm ứng theo các biên lai số 039778 ngày 24/12/2015, số 08033 ngày 31/10/2016, số 0005445 ngày 08/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, Đồng Tháp và bà Nguyễn Th T được nhận lại 412.000 đồng.

+ Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H. phải nộp số tiền là 28.128.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 33.000.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai số 08407 và số 08408 cùng ngày 10/02/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, Đồng Tháp và được nhận lại số tiền là 4.872.000 đồng.

- Về chi phí tố tụng và chi phí giám đ nh; xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản:

+ Bà Nguyễn Th T phải ch u chi phí giám đ nh với số tiền là 2.825.000 đồng; số tiền này bà T đã nộp và chi xong.

+ Về chi phí tố tụng gồm chi xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản là: 3.270.751 đồng, do bà Nguyễn Th T nộp tạm ứng.

+ Bà Nguyễn Th T phải ch u số tiền là 1.635.751 đồng.

+ Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H. phải nộp số tiền 1.635.000 đồng và bà Nguyễn Th T được nhận lại số tiền này.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đư ng sự theo luật đ nh.

Ngày 08 tháng 5 năm 2019, b đ n bà ê Th Thu H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H. kháng cáo không đồng ý bản án s thẩm đã xét xử.

Ngày 10/5/2019 Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C kháng ngh bản án s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C theo Quyết đ nh kháng ngh số: 04/QĐ NPT-VKS-DS ngày 10/5/2019. Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện ki m sát vẫn giữ nguyên Quyết đ nh kháng ngh của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C.

Tại phiên tòa phúc thẩm, b đ n bà ê Th Thu H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H. vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đ n Nguyễn Th im T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đồng ý bản án s thẩm đã xét xử.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Th im T trình bày: Đề ngh Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án s thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H.K; không chấp nhận phản tố của phía bà H, vì di chúc ngày 10/6/2004 là không hợp pháp, đã vi phạm về hình thức và nội dung, đồng thời nội dung di chúc chỉ th hiện bà D1 cho ông K1 được quyền sử dụng căn nhà mà không th hiện nội dung bà D1 cho ông K1 được quyền sở hữu, sử dụng nhà và đất. Đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố di chúc ngày 10/6/2004 vô hiệu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp vẫn giữ nguyên Quyết đ nh kháng ngh của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C.

Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát bi u ý kiến về vụ án như sau:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như các đư ng sự đều thực hiện đúng theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đư ng sự kháng cáo và Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C kháng ngh bản án s thẩm trong thời hạn luật đ nh.

- Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H ristin, Nguyễn ê Xuân Hoàng raren; Sửa bản án s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C; Chấp nhận toàn bộ kháng ngh phúc thẩm số: 04/QĐ NPT-VKS-DS ngày 10/5/2019 của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C; Công nhận cho bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H. , Nguyễn ê Xuân H. (là vợ và các con của ông Nguyễn Minh K1) được hưởng đối với diện tích 65m2 và 01 căn nhà cấp 3 trên đất thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (thửa cũ là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13) do bà Nguyễn Th D1 đứng tên ngày 17/12/2003. Vì nhà và đất trên do bà Nguyễn Th D1 đã lập di chúc vào ngày 10/6/2004 đ lại cho ông Nguyễn Minh K1 hưởng, sử dụng. Viện ki m sát giữ nguyên nội dung Quyết đ nh kháng ngh của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C, Đồng Tháp.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát bi u của i m sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận đ nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Tòa án cấp s thẩm đã xác đ nh đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết và xét xử vụ án đúng thẩm quyền và thủ tục theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự. B đ n, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C kháng ngh bản án s thẩm trong thời hạn luật đ nh.

- Tại phiên tòa ngày 11/11/2019, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n Nguyễn Th im T là bà Võ Th N, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đ n Nguyễn Th im T là uật sư Phạm Hữu , Người đại diện theo ủy quyền của b đ n ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K là ông ê hắc C1, Đại diện theo pháp luật của Nguyễn ê Xuân H.K là bà ê Th Thu H, Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Minh T2 là ch Trần Th Ngọc M, Người đại diện theo ủy quyền của ê Th Tú T4 và Nguyễn ê Xuân T1 là ông Nguyễn Văn H1 có mặt tại phiên tòa. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Phòng Công chứng số 01 tỉnh Đồng Tháp có đ n đề ngh xin vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tô Th Thúy N1 vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy đ nh tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn nhà 01 trệt + 02 lầu và phần đất đang tranh chấp trong vụ án này theo đo đạc thực tế là 65m2, thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ chính quy là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13) nằm trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 4 về 1 theo s đồ đo đạc, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Nguyễn Th D1 đứng tên ngày 17/12/2003, tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Theo nội dung kháng cáo thì bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K kháng cáo toàn bộ bản án s thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K (là vợ và các con của ông Nguyễn Minh K1) cùng được hưởng thừa K1 đối với diện tích 65m2 và 01 căn nhà cấp 3 trên đất thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (thửa cũ là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13) do bà Nguyễn Th D1 đứng tên ngày 17/12/2003. Vì bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn Lê Xuân H.K cho rằng nhà và đất trên do bà Nguyễn Th D1 đã lập di chúc vào ngày 10/6/2004 đ lại cho ông Nguyễn Minh K1 hưởng toàn bộ nên bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K là vợ và các con của ông K1 được hưởng thừa K1 nhà và đất trên của ông K1 chết đ lại.

Theo nội dung kháng ngh của Viện ki m sát:

- Thứ nhất: Tòa án cấp s thẩm căn cứ vào nội dung của di chúc có đoạn “Sau khi tôi qua đời thì con tôi là Nguyễn Minh K1 được toàn quyền sử dụng căn nhà này mà không có ai được quyền tranh cản” đ nhận đ nh bà D1 chỉ giao cho ông K1 quyền sử dụng căn nhà mà không giao cho ông K1 quyền sở hữu đối với căn nhà là không phù hợp, bởi khi xem xét thì cần phải căn cứ vào toàn bộ nội dung di chúc đ xem xét một cách khách quan và theo nội dung di chúc thì ý chí của bà D1 đ lại nhà và đất trên cho ông K1 sở hữu, sử dụng.

- Thứ hai: Phần quyết đ nh lại tuyên giao toàn bộ nhà và đất cho bà T được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và đi đăng ký mà không đề cập phần thừa K1 của bà ê Th T5 (con bà D1) đ tạm giao phần thừa K1 của bà T5 cho bà T quản lý là không phù hợp theo quy đ nh.

- Thứ ba: B đ n ê Th Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn ê Xuân H.K và Nguyễn ê Xuân H.K có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập chia di sản theo di chúc và yêu cầu được nhận bằng hiện vật, nhưng phần quyết đ nh của bản án s thẩm không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu là chưa giải quyết hết các yêu cầu của đư ng sự.

Xét qua nội dung kháng cáo của bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận kháng cáo, bởi lẽ: Đối với diện tích theo đo đạc thực tế là 65m2 và 01 căn nhà 01 trệt + 02 lầu thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ chính quy là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13) là có nguồn gốc của bà Nguyễn Th D1 và do bà Nguyễn Th D1 đứng tên quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Vào ngày 10/6/2004 bà Nguyễn Th D1 (mẹ của ông Nguyễn Minh K1) có lập Tờ di chúc được Phòng công chứng số 1 tỉnh Đồng Tháp công chứng vào ngày 10/6/2004. Theo toàn bộ nội dung Tờ di chúc là th hiện ý chí của bà Nguyễn Th D1 tự nguyện đ lại căn nhà số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, th xã C (nay là thành phố C) cho ông Nguyễn Minh K1 sử dụng. Đồng thời, căn cứ vào Văn bản cung cấp thông tin của Phòng công chứng số 1 tỉnh Đồng Tháp đã xác đ nh nội dung Tờ di chúc của Nguyễn Th D1 lập ngày 10/6/2004 là: “Ông Nguyễn Minh K1 được toàn quyền sở hữu, sử dụng căn nhà và đất tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, th xã C, tỉnh Đồng Tháp, phù hợp với ý chí của người lập di chúc tại thời đi m lập di chúc là đ lại toàn quyền thừa hưởng tài sản của mình cho người được chỉ đ nh trong di chúc, bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền đ nh đoạt”. Từ những căn cứ trên xác đ nh Tờ di chúc do Nguyễn Th D1 lập ngày 10/6/2004 trên là di chúc hợp pháp th hiện ý chí tự nguyện của bà Nguyễn Th D1 tại thời đi m lập di chúc đ lại cho ông Nguyễn Minh K1 được quyền hưởng, sử dụng và sở hữu di sản là căn nhà và đất trên. Do đó, căn nhà và đất trên là di sản thừa K1 của bà D1 mà ông K1 được hưởng theo di chúc nên căn nhà và đất trên là thuộc tài sản của ông K1 được hưởng. Do ông Nguyễn Minh K1 đã chết nên bà ê Th Thu H (vợ ông K1), Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K (các con ông K1) có đủ điều kiện hưởng tài sản căn nhà và đất trên do ông K1 chết đ lại bằng hiện vật. Do đó, giao căn nhà và đất trên cho bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K (là vợ và các con ông K1) cùng được quyền hưởng, sử dụng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp, đúng pháp luật.

Trong quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án cấp s thẩm và cấp phúc thẩm, bà T yêu cầu Tòa án chia thừa K1 theo pháp luật đối với căn nhà và đất do bà D1 chết đ lại. Xét yêu cầu trên của bà T là hoàn toàn không có căn cứ nên không được chấp nhận theo như Hội đồng xét xử đã nhận đ nh và phân tích trên.

Tại cấp phúc thẩm, những người K1 thừa quyền và nghĩa vụ của bà ê Th T5 không yêu cầu chia hưởng gì về căn nhà và đất do bà Nguyễn Th D1 chết đ lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại cấp s thẩm và phúc thẩm thì phía bà T trình bày ông K1 họ ê không phải họ Nguyễn nên cho rằng Tờ di chúc bà D1 đ lại tài sản cho người tên Nguyễn Minh K1 không hợp pháp. Xét qua lời trình bày trên của bà T là không có căn cứ. Bởi lẽ tại cấp s thẩm và phúc thẩm các đư ng sự đều thừa nhận ông K1 là con trai duy nhất của bà Nguyễn Th D1, do đó ông Nguyễn Minh K1 được hưởng di sản theo tờ di chúc do bà Nguyễn Th D1 đ lại là hoàn toàn phù hợp.

Xét đề ngh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đ n Nguyễn Th im T là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Xét kháng ngh của Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân thành phố C và đề ngh của đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là hoàn toàn có c sở và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Từ những nhận đ nh và phân tích trên, xét thấy kháng cáo của bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K là có căn cứ, do đó phải sửa bản án dân sự s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C; Đồng thời, công nhận cho bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K (là vợ và các con ông K1) cùng được quyền hưởng căn nhà và đất trên của ông K1 chết đ lại là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp, đúng pháp luật.

Về án phí:

- Bà Nguyễn Th im T không phải ch u án phí dân sự s thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận.

- Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K được hưởng tài sản thừa K1 nên phải ch u án phí dân sự s thẩm tư ng ứng với phần tài sản đã được chia hưởng theo quy đ nh của pháp luật.

- Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K được chấp nhận kháng cáo nên không phải ch u tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Về chi phí tố tụng: Do bà Nguyễn Th im T không được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bà T phải ch u toàn bộ chi phí giám đ nh, xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản theo quy đ nh của pháp luật.

Các phần khác tại phần quyết đ nh của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148 và khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 624, Điều 625, Điều 626, Điều 628, Điều 630 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Ngh quyết số: 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K.

2. Chấp nhận toàn bộ kháng ngh của Viện trưởng Viện ki m sát nhân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3. Sửa bản án dân sự s thẩm số: 28/2019/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng tháp.

4. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Th im T về việc yêu cầu bà Tô Th Thúy N1 trả số tiền thuê nhà 90.000.000 đồng và yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà giữa bà Tô Th Thúy N1 với ông Nguyễn Minh K1.

5. hông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Th im T về việc: Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đối với di chúc do bà Nguyễn Th D1 lập ngày 10/6/2004; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trên đất do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Nguyễn Th D1 ngày 17/12/2003 và yêu cầu bà ê Th Thu H trả số tiền 90.000.000 đồng cho thuê nhà.

6. hông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Th im T về việc yêu cầu chia thừa K1 theo pháp luật đối với diện tích đất theo đo đạc thực tế là 65m2 và căn nhà 01 trệt + 02 lầu trên đất, thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ chính quy là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13), giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Nguyễn Th D1 đứng tên ngày 17/12/2003, tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

7. Chấp nhận yêu cầu của bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H Kristin, Nguyễn ê Xuân Hoàng raren về việc yêu cầu được hưởng, sở hữu, sử dụng diện tích 65m2 (đất ở), căn nhà 01 trệt + 02 lầu trên đất, thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ chính quy là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13), giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Nguyễn Th D1 đứng tên ngày 17/12/2003, tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

8. Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K cùng được quyền hưởng, sở hữu, sử dụng 01 căn nhà 01 trệt + 02 lầu (khung bê tông cốt thép, nền lót gạch men) và diện tích 65m2 (đất ở), thuộc thửa đất số 332, tờ bản đồ số 01 (theo bản đồ chính quy là thửa đất số 01, tờ bản đồ số 13) nằm trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 4 về 1, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp cho bà Nguyễn Th D1 đứng tên ngày 17/12/2003, tọa lạc tại số A, đường N.Đ.C, khóm B, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

( èm theo biên bản xem xét, thẩm đ nh tại chỗ ngày 25/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố C và S đồ mốc ngày 25/3/2016; Bản đồ trích đo ngày 06/4/2016 (duyệt ngày 07/4/2016) của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Tháp).

9. Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K có quyền và nghĩa vụ đến C quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai đ làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách chuy n đ được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với diện tích 65m2 và 01 căn nhà đã được Tòa án công nhận sở hữu, sử dụng trên theo quy đ nh của pháp luật.

10. Về án phí:

10.1. Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K cùng có nghĩa vụ liên đới nộp 66.288.000 đồng án phí dân sự s thẩm, nhưng được khấu trừ vào vào số tiền 33.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự s thẩm theo biên lai số 08407 và số 08408 cùng ngày 10/02/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, Đồng Tháp. Bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K cùng có nghĩa vụ liên đới nộp tiếp số tiền 33.288.000 đồng án phí dân sự s thẩm.

10.2. Bà Nguyễn Th im T phải nộp 5.100.000 đồng tiền án phí dân sự s thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 33.440.000 đồng đã nộp theo các biên lai số 039778 ngày 24/12/2015, số 08033 ngày 31/10/2016, số 0005445 ngày 08/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Th im T 28.340.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự s thẩm.

10.3. Hoàn trả lại cho bà ê Th Thu H, Nguyễn ê Xuân H.K, Nguyễn ê Xuân H.K 900.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0008794 ngày 09/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

11. Về chi phí tố tụng:

11.1. Bà Nguyễn Th im T phải ch u chi phí giám đ nh số tiền là 2.835.000 đồng (số tiền này bà Nguyễn Th im T đã nộp và chi xong).

11.2. Bà Nguyễn Th im T phải ch u toàn bộ tiền chi phí xem xét, thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản là 3.270.751 đồng (số tiền này bà Nguyễn Th Kim T đã nộp và chi xong).

12. Các phần khác tại phần quyết đ nh của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

13. Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 uật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 uật Thi hành án dân sự.

14. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ