vanban.org

Bản án 411/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/12/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/12/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H (HL) - Sửa bản án sơ thẩm số: 276/2018/HSST ngày 26/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Trần Văn H (HL) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H (HL) - Sửa bản án sơ thẩm số: 276/2018/HSST ngày 26/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 411/2018/HS-PT
Ngày: 28-12-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Văn Công Dần

Ông Y Phi Kbuôr

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 393/2018/TLPT-HS ngày 03/12/2018, đối với bị cáo Trần Văn H, do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn H đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 276/2018/HSST ngày 26/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Văn H; tên gọi khác: HL; sinh ngày: 12/8/1999; tại: Tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện N, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; tiền án: 01 (Ngày 28/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm tuyên phạt 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo bản án 35/2016/HSST); tiền sự: Không; con ông: Trần Văn L (đã chết) và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1967, hiện trú tại: Thôn A, xã M, huyện N, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo chưa có vợ, con.

Ngày 05/6/2018, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị tạm giữ. Ngày 11/6/2018, bị khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn H là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 9h00’ ngày 05/6/2018, khi H đang ở nhà nghỉ (chưa rõ địa điểm) trên đường ĐN, phường TL, thành phố B thì đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch) sử dụng số thuê bao xxxx.xxx.xxx gọi vào điện thoại di động hiệu OPPO F5, màu đen, số thuê bao xxxx.xxx.yyy của H nhờ mua giúp 04 viên ma túy dạng thuốc lắc rồi mang đến Khách sạn H, ở địa chỉ: đường L, phường TA, thành phố B đưa cho T thì H đồng ý. H gọi điện cho đối tượng tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 04 viên thuốc lắc với giá 280.000đ/viên. T1 đồng ý và hẹn H đến khu vực trước Khách sạn H. Tại đây, T1 đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá ngựa trắng, H mở ra thấy bên trong có 01 gói nylon chứa 04 viên nén hình chữ nhật màu hồng. Sau khi mua được ma túy H cất giấu vào trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi đi vào Khách sạn H. Khi H đi đến khu vực sảnh khách sạn thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ 01 gói nylon bên trong có 04 viên nén hình chữ nhật màu hồng, H khai là ma túy dạng thuốc lắc, đã niêm phong theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số: 520/GĐMT-PC54 ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: 04 viên nén hình chữ nhật màu hồng đựng trong 01 gói nylon thu giữ của Trần Văn H được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại ma tuý MDMA, khối lượng 1, 5863 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 276/2018/HSST ngày 26/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56, khoản 5 Điều 65 BLHS năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Văn H 03 năm tù.

Tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù treo của bản án hình sự số 35/2016/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, thành 02 năm 03 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt chung là 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 05/6/2018. Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/9/2016 đến ngày 28/11/2016.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí.

Ngày 29 tháng 10 năm 2018 bị cáo Trần Văn H đã làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra đối với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H và cho rằng Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ. Mức hình phạt 03 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Trần Văn H - giữ nguyên bản án sơ thẩm: Xử phạt bị cáo 03 năm tù và tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù treo thành tù giam, buộc bị cáo Trần Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm 03 tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo không tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Trần Văn H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, nên vào ngày 05/06/2018, bị cáo Trần Văn H đã nhận ma túy loại MDMA từ đối tượng tên là T1 (không rõ nhân thân lai lịch), cất giấu trong túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi đi vào khách sạn H, đến khu vực sảnh Khách sạn H, ở địa chỉ: đường L, phường TA, thành phố B, thì bị lực lượng Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang. Kết quả thu giữ được của bị cáo là: 01 gói nylon bên trong có 04 viên nén hình chữ nhật màu hồng. Tại bản kết luận giám định số: 520/GĐMT-PC54 ngày 11/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: 04 viên nén hình chữ nhật màu hồng đựng trong 01 gói nylon thu giữ của Trần Văn H được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại ma tuý MDMA, khối lượng 1,5863 gam. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, HĐXX nhận thấy: Bị cáo có hành vi tàng trữ 1,5863g MDMA, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn H mức án 03 năm tù là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt là có căn cứ. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận kháng cáo đề sửa bản án sơ thẩm số: 276/2018/HSST ngày 26/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Trần Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H (HL) - Sửa bản án sơ thẩm số: 276/2018/HSST ngày 26/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Văn H (HL) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù treo của bản án hình sự số 35/2016/HSST ngày 28/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện CưKuin, tỉnh Đắk Lắk, thành 02 năm 03 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Trần Văn H (HL) phải chấp hành là 04 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 05/6/2018. (Được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/9/2016 đến ngày 28/11/2016).

[3] Về án phí: Bị cáo Trần Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ