vanban.org

Bản án 410/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 16/07/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tố tụng Hình sự năm 2015,

Sửa một phần bản án sơ thẩm: Trả lại cho bị cáo Lê Văn Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Thành - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 19…"
  • Tòa quyết gì? tố tụng Hình sự năm 2015,
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 410/2018/HS-PT
Ngày: 16-7-2018

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Bà Đặng Thị T Huyền

Ông Phạm Năng Thành

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền - Thư

ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 388/2018/TLPT-HS ngày 19 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo Lê Văn Th do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2018/HS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

LÊ VĂN TH, sinh ngày 10/9/1995 tại Hà Nội; ĐKHKTT: Đội 5 Thôn

T Y, xã P Y, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội; nơi cư trú: số 19B/22/16 ngõ L C, phường T Q, quận Đống Đa, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2017 đến ngày 30/3/2018, hiện tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Thị T không có kháng cáo và không

bị kháng cáo, kháng nghị:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h30 ngày 17/12/2017, Nguyễn Thị T nhận điện thoại của

một người phụ nữ tên Hương và giới thiệu là bạn của chị Sai (là bạn xã hội, T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 10 viên ma túy thuốc lắc và 01 chỉ ke. T gọi điện thoại cho Thư (là bạn xã hội, T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy thì Thư báo sẽ nhờ người mua hộ. Sau đó, T nhận được điện thoại của một người đàn ông (T không quen biết) báo giá 10 viên ma túy thuốc lắc và 01 chỉ ke có giá là 8.800.000 đồng thì T gọi điện lại cho Hương báo giá là 8.800.000 đồng, Hương đồng ý và hứa sẽ cho T thêm 500.000 đồng hẹn gặp tại ngõ 282 Lạc Long Quân thuộc địa bàn phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. T đồng ý và gọi điện lại cho bạn của Thư báo chuyển ma túy cho T tại khu vực ngõ 282 Lạc Long Quân rồi T bắt taxi để đi ra khu vực ngõ 282 Lạc Long Quân. Đến khoảng 15h00 cùng ngày 17/12/2017, Lê Văn Th nhận được điện thoại của người đàn ông (Th không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể) bảo Th chuyển ma túy cho T. Khi T đang trên đường đi đến điểm hẹn thì nhận được điện thoại của Lê Văn Th hỏi T cần chuyển “đồ” đến địa chỉ nào, T báo chuyển “đồ” đến địa chỉ số 38 ngõ 282 Lạc Long Quân là nhà nghỉ Vip Tây Hồ. Đến khoảng 16h00 cùng ngày, T gặp Th tại sảnh nhà nghỉ Vip Tây Hồ, Th đưa cho T chiếc thiệp mời màu vàng bên trong có chứa ma túy và cả hai đợi người mua đến trả tiền. Trong lúc T và Th đang đợi thì tổ công tác công an phường Bưởi kiểm tra hành chính và phát hiện trên mặt ghế tại vị trí của T ngồi có chiếc thiệp mời màu vàng, T khai nhận chiếc thiệp là của T và bên trong có chứa ma túy mua của Th. Tổ công tác đã mở thiệp ra kiểm tra và phát hiện bên trong có 01 gói được bọc ngoài bằng băng dính màu xanh, bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 10 viên nén hình tròn màu xanh. Tổ công tác lập biên bản và đưa T cùng Th về trụ sở công an phường Bưởi để tiếp tục làm rõ.

Công an đã thu giữ của Nguyễn Thị T :

- 01 chiếc thiếp mời bằng giấy màu vàng, bên trong có 01 gói được bọc

ngoài bằng băng dính màu xanh, bên trong gói bọc ngoài bằng băng dính màu xanh có:

+ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng;

+ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu

xanh, trên mỗi viên có in logo “W”.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng;

- 01 túi xách màu hồng bên trong có :01 điện thoại đi động nhãn hiệu

Nokia màu xanh; 820.000 đồng; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T; 01 hộ chiếu mang tên Nguyễn Thị T.

Công an đã thu giữ của Lê Văn Th: 01 chiếc điện thoại di động nhãn

hiệu Nokia C1 màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; 01 chiếc ví màu đen bên trong có: 01 giấy đăng ký xe moto mang tên Nguyễn Thị Vinh và 5.800.000 đồng.

Ngày 29/12/2017, phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà

Nội có kết luận số 7481, kết luận:

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine,

khối lượng: 1,389 gam;

- 10 viên nén hình tròn màu xanh có logo W đều là ma túy loại MDMA,

tổng khối lượng: 3,112 gam”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2018/HSST ngày 08 tháng 5 năm

2018 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm

s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Văn Th 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 17/12/2017 đến ngày 30/3/2018.

- Ngoài ra bản án còn xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 48 tháng tù, tuyên

về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/5/2018 bị cáo Lê Văn Th có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo phạm tội lần đầu; mẹ bị bệnh tật; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo bổ sung kháng cáo xin được trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và số tiền 5.800.000đồng không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi

tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên mức hình phạt 40 tháng tù đối với bị cáo Lê Văn Th. Đối với điện thoại di động và tiền thu giữ của bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn Th tại phiên tòa phúc thẩm phù

hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo khác, những người làm chứng, kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16h00 ngày 17/12/2017, tại nhà nghỉ Vip ở số 38 ngõ 282 Lạc Long Quân, quận Tây Hồ TP Hà Nội, Lê Văn Th và Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi trao đổi 01 chiếc thiệp mời màu vàng bên trong chứa 01 ma túy Ketamine khối lượng 1,389 gam và 10 viên nén hình tròn màu xanh là ma túy MDMA tổng khối lượng 3,112 gam nhằm mục đích mua bán với nhau. Chính vì vậy hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T và Lê Văn Th đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn Th xin giảm nhẹ hình phạt thì Hội

đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án; vai trò của bị cáo; thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo đã quyết định mức hình phạt 40 tháng tù đối với bị cáo Lê Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Văn Th kháng cáo song không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 5.800.000

đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn Th là tài sản và tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bản thân bị cáo chưa được hưởng lời từ hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu tài sản và tiền của bị cáo. Do vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo trả lại điện thoại và tiền cho bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên không phải

chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 357 của Bộ luật

tố tụng Hình sự năm 2015,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1

Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Văn Th 40 (bốn mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2017 đến ngày 30/3/2018) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Trả lại cho bị cáo Lê Văn Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone và số tiền 5.800.000 đồng.

2. Về án phí: bị cáo Lê Văn Th không phải nộp án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo

Nguyễn Thị T, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ