- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "DSPT Nguyễn Thị H - Đặng Thị T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Đặng Thị T và anh Nguy n Văn Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật t tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản n s : 41/2024/DS - PT Ngày: 29/3/2024 V/v tranh chấp di sản th a kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguy n ch Yên
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Nguy n Thị Thủy
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Chức vụ: Kiểm s t viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 129/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc "Tranh chấp di sản th a k ".
Do bản án dân sự sơ thẩm s 17/2023/DS-ST ngày 25/8/2023 của Tòa n nhân dân thành ph Ph Yên, tỉnh Th i Nguyên bị kh ng c o.
Theo quy t định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s 19/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 01 năm 2024 giữa c c đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguy n Thị H, sinh năm 1955 (Có mặt);
Địa chỉ: Xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên
1.2. Bà Nguy n Thị L, sinh năm 1959 (Có mặt);
Địa chỉ: Xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1964 (Vắng mặt);
2.2. Anh Nguy n Văn Đ, sinh năm 1990 (Có mặt);
Bà T ủy quyền cho anh Đ tham gia t tụng tại cấp phúc thẩm.
Cùng địa chỉ: Xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - anh Đ: Ông Nguy n Ngọc K, sinh năm 1976 – Luật sư Văn phòng L3.
Địa chỉ: P, Tòa nhà M, s I đường N, phường L, quận Đ, Thành ph Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguy n Văn C, sinh năm 1963 (đã ch t).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C:
3.1. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1964 (Vắng mặt, uỷ quyền cho anh Đ);
3.2. Anh Nguy n Văn Đ, sinh năm 1990 (Có mặt);
Cùng địa chỉ: Xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên.
3.3. Anh Nguy n Văn M, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay: 817/21/6 khu G t C, đường L, phường P, thành ph T, tỉnh Bình Dương.
Đại diện theo uỷ quyền của anh M: Bà Nguy n Thị H, sinh năm 1955; Địa chỉ: Xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
3.4. Chị Nguy n Thị L1, sinh năm 1986 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
5. Anh Nguy n Văn Đ1, sinh năm 1988 (con ông Nguy n Văn C, đã ch t năm 2017, không có vợ con).
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Đặng Thị T và anh Nguy n Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị L thống nh t trình bày:
B mẹ đẻ của hai bà là cụ Nguy n Văn N, sinh năm 1932 (ch t năm 1992) và cụ Th i Thị L2, sinh năm 1927 (ch t năm 2010). Qu trình chung s ng hai cụ sinh được ba người con là: Bà Nguy n Thị H, sinh năm 1955; bà Nguy n Thị L, sinh năm 1959 và ông Nguy n Văn C, sinh năm 1963 (đã ch t năm 2017). B mẹ bà không có con nuôi, con riêng nào khác. Khi ch t cả hai cụ đều không để lại di chúc.
Khi còn s ng cụ N và cụ L2 có tạo dựng được kh i tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất s 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) diện tích 1.695 m2 đất (trong đó có 1400 m2 đất ở và 295 m2 đất trồng cây lâu năm), vị trí đất tại xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên đã được UBND huyện (nay là thành ph ) Ph Yên cấp lần đầu vào năm 1993 mang tên cụ N, đ n năm 2009 được Ủy ban nhân dân huyện N2 là thành ph P cấp đ i vào ngày 06/5/2009 mang tên hộ bà Th i Thị L2. Qu trình sinh s ng hai cụ có xây dựng nhà ở, cụ N, cụ L2 cùng các con sinh s ng trên thửa đất đó. Nguồn g c đất là do hai cụ khai hoang có trước khi các cụ sinh ba người con là bà H, bà L và ông C. Sau này khi các con trưởng thành thì bà H và bà L đi lấy chồng ở gần đó. Năm 1982 ông C xây dựng gia đình với bà Đặng Thị T và cùng chung s ng với với cụ N và cụ L2. Năm 1992 khi cụ N ch t thì cụ L2 vẫn ti p tục ở trên công trình làm trên thửa đất này. Ở cùng cụ L2 lúc này có ông C, bà T và ba người con của ông C, bà T là: M, L1 và Đ. Đ n năm 1995 do mâu thuẫn với cụ L2 nên vợ chồng ông C xây nhà ở nơi khác và chuyển ra ở riêng. Chỉ còn cụ L2 ở một mình trên thửa đất s 149. Đ n năm 2009 thì cụ L2 lại về ở cùng với vợ chồng ông C, thửa đất trên bỏ không đ n năm 2010 thì cụ L2 ch t.
Sau khi cụ L2 ch t được khoảng 1 đ n 2 năm thì ông C đã ph bỏ toàn bộ công trình trên đất, lấp ao và trồng cây keo trên diện tích đất này. Năm 2017, ông C ch t. Bà T và anh Đ (vợ, con của ông C) vẫn ti p tục quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất này. Đ n năm 2020 anh Đ đi kê khai để th a k tài sản này thì bà H, L không đồng ý vì xác định đây là di sản của cụ N và cụ L2 để lại, chưa phân chia cho ai hiện do bà T và anh Đ đang quản lý, sử dụng. Theo k t quả đo đạc diện tích đất trên giấy chứng nhận là 1.965 m2 trong đó có 1.400 m2 th cư và 295 m2 đất cây lâu năm. Tuy nhiên hiện trạng thực t còn 1668,4 m2 trong đó có 1.400m2 đất th cư và 268,4 m2 đất cây lâu năm, diện tích đất giảm đi là do quá trình làm đường đã lấn vào.
Nay bà H và bà L đề nghị Toà án phân chia di sản th a k của cụ N và cụ L2 để lại là thửa đất s 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) diện tích là 1.668,4 m2 theo ph p luật. Còn c c tài sản kh c là đất nông nghiệp các bà không yêu cầu giải quy t. Cụ N, cụ L2 khi ch t không để lại bất kỳ nghĩa vụ gì cho các con.
Bị đơn Đặng Thị T đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Chu trình b:
Bà là vợ của ông C và là em dâu của bà H và bà L. B mẹ chồng bà là cụ N và cụ L2 sinh được ba người con là bà H, bà L và ông C (chồng bà). Năm 1992 ông N ch t, năm 2010 bà L2 ch t. Trước khi ch t ông N, bà L2 có tài sản gồm: Thửa đất s 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) diện tích là 1.695 m2 trong đó có 1.400m2 đất th cư và 295 m2 đất trồng cây lâu năm, mang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ bà Thái Thị L2. Giấy chứng nhận được cấp đ i vào năm 2009 do chồng bà và bà L2 ra UBND xã M cấp đ i bìa. Trước khi ông N, bà L2 ch t không để lại di chúc, hiện gia đình bà đang quản lý, sử dụng trồng cây trên đất. Vào trước năm 1982 cho đ n năm 1996 gia đình chuyển ra chỗ kh c ở. T năm 1996 cho đ n nay gia đình đang quản lý và ở trên đất và gia đình ở chỗ mới c ch mảnh đất của cụ N và cụ L2 khoảng 500 mét. Năm 2016 ông C ch t. Nguồn g c đất do cụ N, cụ L2 đ i thóc, đ i lợn cho một người (theo cụ L2, cụ N kể lại) còn cụ thể th nào bà không nắm được. Khi bà về làm dâu thì mảnh đất đã có t trước vào năm nào bà không bi t.
Nay bà H và bà L yêu cầu chia th a k theo ph p luật thì bà có quan điểm t khi chồng bà ch t bà có ý ki n với bà H, bà L xin giữ lại để thờ cúng t tiên nhưng hai bà không đồng ý và đề nghị chia, bà đồng ý cắt cho mỗi là 5 mét mặt đường sâu h t đất. N u hai bà không đồng ý thì bà đề nghị chia th a k theo quy định của pháp luật. Bà x c định đất này của của hồi môn của b mẹ chồng bà để lại. Quá trình giải quy t vụ n biên bản hoà giải về sau và tại phiên toà bà T có quan điểm không đồng ý chia đất, bà đề nghị trả cho bà H và bà L mỗi người một ít tiền, còn để đất đó cho ch u Đ quản lý sử dụng để thờ cúng t tiên.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Chu trình b:
Anh là con đẻ của ông C và bà T. B mẹ anh sinh được 04 người con là: Anh Nguy n Văn M, sinh năm 1983; Chị Nguy n Thị L1, sinh năm 1986; Anh Nguy n Văn Đ1 (ch t năm 2017, không có vợ con) và anh. Anh th a nhận thửa đất s 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) là của ông bà nội anh để lại. Hai cụ ch t không có di chúc, hiện do anh và bà Đặng Thị T (mẹ anh) đang quản lý, sử dụng. Thửa đất đã được UBND huyện N2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AN 861293 ngày 06/5/2009 mang tên hộ bà Th i Thị L2 (cấp đ i). Trên đất hiện nay anh đang trồng cây keo ngoài ra không có tài sản gì kh c. Giấy chứng nhận bản g c hiện nay đang do anh giữ, không th chấp hay cầm c ở đâu.
Nay bà H và bà L yêu cầu chia th a k thửa đất trên theo quy định của pháp luật và đề nghị chia bằng hiện vật trước kia anh cũng đồng ý chia cho bà H 10 mét mặt đườn và bà L 5 mét mặt đường, chiều sâu h t thửa đất, nhưng sau và tại phiên toà thì anh không đồng ý chia đất cho hai bà. Anh đề nghị chia bằng tiền cho hai bà mỗi người là 200.000.000 đồng. N u bà H và bà L không đồng ý nhận tiền thì anh cũng không đồng ý chia vì anh mu n giữ lại đất này, do đây là đất của ông bà nội anh để lại, anh là cháu nội, hiện nay mẹ con anh cũng đang là người thờ cúng cụ N và cụ L2 tại nhà riêng của mẹ anh ở xã M.
* Chị Nguyễn Thị L1 trình bày: Nhất trí với lời trình bày của bà T và anh Đ. Chị là con đẻ của ông C và bà T. Đ i với phần di sản chị được hưởng, chị đề nghị tạm giao cho bà T quản lý.
* Anh Nguyễn Văn M trình bày: B anh là C (đã ch t năm 1992) và mẹ anh là bà Đặng Thị Tuy t . Quá trình chung s ng với nhau b mẹ anh sinh được 04 người con là: Nguy n Văn M, sinh năm 1983; Nguy n Thị L1, sinh năm 1986; Nguy n Văn Đ1, sinh năm 1988 đã ch t năm 2017 (không có vợ con) và Nguy n Văn Đ, sinh năm 1990. Ngoài ra b mẹ anh không có con nuôi, con đẻ, hay con riêng nào khác.
Ông bà nội anh là ông Nguy n Văn N, sinh năm 1932 (mất ngày 25/9/1992), bà N1 anh là Thái Thị L2, sinh năm 1927 (mất ngày 23/10/2010). Qu trình chung s ng ông N và bà L2 sinh được 03 người con là: Bà Nguy n Thị H, sinh năm 1955; Bà Nguy n Thị L, sinh năm 1959 và b anh là ông Nguy n Văn C, sinh năm 1963 (mất năm 2017). Ngoài ra ông N và bà L2 không có con đẻ, con nuôi hay con riêng nào khác.
Trong qu trình sinh s ng ông N và bà L2 có tạo dựng được kh i tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất s 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) diện tích 1.695 m2 đất trong đó có 1.400 m2 đất ở và 295 m2 đất trồng cây lâu năm vị trí thửa đất tại xóm C , xã M - P - Thái Nguyên.
Ông N mất năm 1992, bà L2 mất năm 2010 không để lại di chúc. Sau khi bà H và bà L đi lấy chồng chỉ còn ông Chu ở với ông N, bà L2. Trên thửa đất đó ông bà anh khi còn s ng có xây dựng nhà ở. Đ n khi ông N ch t thì gia đình anh vẫn ở cùng với bà L2. Đ n năm 1995 thì bà L2 không ở được cùng với gia đình anh thì gia đình anh ra chỗ đất kh c làm nhà để ở và bà L2 ở một mình. Khoảng năm 2002 hoặc 2003 anh đi vào Bình Dương làm ăn, thỉnh thoảng về thăm gia đình thì được các bác anh và mọi người nói chuyện lại là khoảng năm 2009 bà nội anh lại về ở cùng với gia đình anh được một năm thì đ n năm 2010 bà L2 mất. Sau khi bà mất được khoảng 1, 2 năm thì b anh đã ph bỏ toàn bộ công trình trên đất, lấp ao và trồng cây keo trên đất đó và sau khi b anh ch t thì mẹ anh và anh Đ quản lý toàn bộ s đất này. Đ n năm 2020 anh Đ đi kê khai để th a k tài sản này thì hai b c của anh là H, L không đồng ý rồi xảy ra việc hai b c kiện mẹ anh và anh Đ ra Toà án. Sau khi Toà án thụ lý vụ n anh cũng đã được Toà án gửi thông báo thụ lý vụ n và c c văn bản t tụng khác anh cũng đã nhận được đầy đủ. Tuy nhiên do anh đi làm ăn xa nhà nên anh cũng đã có văn bản uỷ quyền cho bà H là người thay anh đứng ra giải quy t vụ án và quy t định mọi vấn đề. Quá trình hoà giải tại Toà n lần đầu anh đã được bà H và bà L nói lại là đã th ng nhất hoà giải được với nhau về việc giải quy t vụ án là: Bà H lấy 10 mét mặt đường và bà L lấy 5 mét mặt đường, chiều sâu h t thửa đất còn lại là của ông C và anh đồng ý tạm giao phần tài sản này cho bà T mẹ đẻ anh quản lý và chưa phân chia cho t ng người. Nhưng c c bên đề nghị chưa lập biên bản hoà giải thành mà để cho các bà về xây phân định ranh giới rõ ràng nhưng khi c c bà đ n làm thì anh Đ không đồng ý vì vậy mà không thể hoà giải được nữa và các bà ti p tục đề nghị giải quy t theo quy định của pháp luật. Đ n nay bà H và L yêu cầu chia th a k đ i với thửa đất s 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) diện tích 1.695 m2 đất trong đó có 1.400 m2 đất ở và 295 m2 đất trồng cây lâu năm vị trí thửa đất tại xóm C , xã M - P - Thái Nguyên theo quy định của pháp luật anh hoàn toàn đồng ý. Quan điểm của anh là do b anh đã ch t nên phần của b anh đề nghị chia đều cho những người thuộc hàng th a k thứ nhất của b anh gồm 04 người: mẹ anh là bà T, anh (M), chị L1 và anh Đ. Anh đề nghị chia bằng hiện vật và anh không đồng ý tạm giao cho mẹ anh như biên bản hoà giải ban đầu nữa. Do hiện nay anh đang đi làm ăn xa, đường x đi lại khó khăn nên anh đề nghị Toà án cho anh được vắng mặt tại tất cả các bu i làm việc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, hoà giải và tại c c phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm n u có và anh vẫn giữ nguyên quan điểm là được phân chia phần của ông C theo đúng quy định của pháp luật và anh đề nghị nhận bằng hiện vật.
Tại bản n dân sự sơ thẩm s 17/2023/DSST ngày 25/8/2023 của Toà n nhân dân thành ph Ph Yên tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165, Điều 166, Điều 227; Điều 228; Điều 264, 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật t tụng dân sự634, 635, Điều 636, Điều 637 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 610; 611, 612, 614; Điều 623; Điều 649, Điều 650; Điều 651; Điều 660; Điều 688 Bộ luật dân sự95; Điều 188 của Luật đất đai 2013; Nghị Quy t s 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Thị H và bà Nguy n Thị L về việc yêu cầu chia di sản th a k là quyền sử dụng đất của cụ Nguy n Văn N và cụ Thái Thị L2 để lại theo pháp luật.
2. Xác định di sản th a k của cụ Nguy n Văn N và cụ Th i Thị Lụa l Quyền sử dụng đất tại đất tại thửa 149, tờ bản đồ s 63 (110-III), diện tích thực t là 1668,4m2 giấy chứng nhận QSD đất s sơ ri AN 861293 do Ủy ban nhân dân huyệN2 (nay là thành ph ) Ph Yên cấp ngày 06/5/2009 mang tên H1 bà Th i Thị L2 (cấp đ i) (trong đó có 1.400m2 đất ở và 268,4m2 đất trồng cây lâu năm).
C c đương sự đều th a nhận cụ N và cụ L2 ch t không để lại nghĩa vụ tài sản nào, nên phần tài sản th a k của các cụ được chia đều cho c c đồng th a k mà không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người ch t để lại.
3. Xác định những người được hưởng di sản th a k của cụ N và cụ L2 để lại là Nguy n Thị H, bà Nguy n Thị L, ông Nguy n Văn C-đã ch t (những người k th a quyền, nghĩa vụ t tụng của ông C là vợ và c c con là: Bà T, anh M, chị L1, anh Đ được hưởng 1,5 kỷ phần th a k trong đó ½ kỷ phần th a k trong việc giữ gìn, bảo quản di sản th a k ).
4. Phân chia di sản th a k bằng hiện vật.
4.1. Chia cho bà Nguy n Thị H 476,6 m2 đất (trong đó có 400 m2 đất th cư và 76,6 m2 đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) thuộc xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên, giá trị là: (470.000 đ/m2 x 400 m2 đất ở) + (59.000 đ/m2 x 76,6 m2 đất CLN) = 188.000.000 đồng + 4.519.400 đồng = 192.519.400đ, theo sơ đồ giới hạn c c điểm: 10,11,12,26,10.
4.2. Chia cho bà Nguy n Thị L 476,6 m2 đất (trong đó có 400 m2 th cư và 76,6 m2 đất cây lâu năm) thuộc thửa 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) thuộc xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên, giá trị là: (470.000 đ/m2 x 400 m2 đất ở) + (59.000 đ/m2 x 76,6 m2 đất CLN) = 188.000.000 đồng + 4.519.400 đồng = 192.519.400 đồng, theo sơ đồ giới hạn c c điểm: 6,7,8,9,10,26,6.
4.3. Chia cho bà Đặng Thị T, anh Nguy n Văn Đ và chị Nguy n Thị L1 536,4 m2 đất (Trong đó mỗi phần là 178,8 m2 đất (Trong đó có 150 m2 đất th cư và 28.8 m2 đất cây lâu năm) tại thửa 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) thuộc xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Thái Nguyên, giá trị là: (470.000 đ/m2 x 450m2 đất ở) + (59.000 đ/m2 x 86,4 m2 đất CLN) = 211.500.000 đồng + 5.154.600 đồng = 216.656.600 đồng. (Chị L1 và anh Đ đề nghị tạm giao phần của anh Đ và chị L1 cho bà T quản lý sử dụng) theo đó phần đất chia cho bà T, chị L1, anh Đ theo sơ đồ giới hạn c c điểm 1,2,3,4,13,14,15,16,17,18,19,20,21,22,23,24,25,1.
4.4. Chia cho anh Nguy n Văn M 178,8 m2 đất (Trong đó có 150 m2 đất th cư và 28.8 m2 đất trồng cây lâu năm) tại thửa 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) thuộc xóm C, xã M, thành ph P, tỉnh Th i Nguyên, giá trị là: (470.000 đ/m2 x 150 m2 đất ở) + (59.000 đ/m2 x 28,8 m2 đất trồng cây lâu năm) = 70.500.000 đồng + 1.699.200 đồng = 72.199.200 đồng, theo sơ đồ giới hạn c c điểm: 4,5,6,26,12,13,4.
4.5. Anh Nguy n Văn Đ có trách nhiệm thu dọn toàn bộ cây c i trên phần đất chia cho bà H, bà L, anh M và phần đất tạm giao cho bà T để trả lại đất cho những người có tên trên quản lý, sử dụng.
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục t ch chia và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất là di sản th a k được phân chia theo bản án.
5. Về chi phí t tụng: Bà H, bà L đã tự nguyện chi phí xong toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định gi và đo đất, không đặt ra việc xem xét giải quy t.
6. Về n phí:
6.1. Bà Nguy n Thị H, Nguy n Thị L là người trên 60 tu i nên được mi n toàn bộ án phí DSST phần tài sản được hưởng. Bà H, bà L được trả lại tạm ứng án phí đã nộp là 3.750.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí s 0005189 ngày 10/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành ph ) P.
6.2. Bà Đặng Thị T phải chịu án phí có giá ngạch phần tài sản được hưởng (cả phần đất do chị L1 và anh Đ đề nghị tạm giao cho bà T), có giá trị là (470.000 đ/m2 x 450m2 đất ở) + (59.000 đ/m2 x 86,4 m2 đất CLN) = 211.500.000 đồng + 5.097.600 đồng = 216.597.600 đồng x 5% = 10.829.880 đồng (mười triệu t m trăm hai mươi chín nghìn tám trăm t m mươi đồng).
6.3. Anh Nguy n Văn M phải chịu án phí có giá ngạch phần tài sản được hưởng trị gi (470.000 đ/m2 x 150 m2 đất ở) + (59.000 đ/m2 x 28,8 m2 đất trồng cây lâu năm) = 70.500.000 đồng + 1.699.200 đồng = 72.199.200 đồng x 5%= 3.609.960 đồng được khấu tr vào s tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng n phí đã nộp tại B lại thu s 0001589 ngày 18/8/2023 của Chi cục thi hành n dân sự thành ph Ph Yên, anh M còn phải nộp ti p 3.309.960đồng (ba triệu ba trăm linh chín nghìn chín trăm s u mươi đồng).
Ngoài ra bản n còn tuyên về quyền kh ng c o cho c c đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/8/2023 bị đơn bà Nguy n Thị T1 và anh Nguy n Văn Đ kháng cáo toàn bộ bản n sơ thẩm, đề nghị Tòa n cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản n sơ thẩm chuyển hồ sơ về Tòa n cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đ ng của c c đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kh ng c o yêu cầu hủy bản n sơ thẩm s 17/2023/DSST ngày 25/8/2023 của Tòa n nhân dân tha nh ph Ph Yên. Bị đơn anh Đ đã nộp Đơn kh ng c o b sung chi ti t nội dung căn cứ kháng cáo, cụ thể: Thứ nhất, Toà sơ thẩm có vi phạm về p dụng ph p luật, toà sơ thẩm x c định đây là di sản của cụ N, cụ L2 và chia cho cụ N, bà L, bà H, tuy nhiên theo 02 quy t định của UBND thành ph N2 và sau này cấp GCNQSD đất thì tại thời điểm cấp GCN là cấp cho hộ gia đình bà Thái Thị L2 năm 2019, thời điểm đó hộ bà L2 gồm: Cụ Thái Thị L2, Nguy n Văn C, Đặng Thị T, Nguy n Văn M, Nguy n Thị L1, Nguy n Văn Đ1, Nguy n Văn Đ (7 người). Như vậy di sản của cụ N không còn vì thời điểm cấp GCNQSD đất bà H, bà L không có ý ki n gì. Do đó, tài sản cần phân chia là quyền sử dụng 1.668m2 đất phải chia cho 7 người.
Thứ hai, vi phạm về t tụng: Việc x c định người k th a quyền và nghĩa vụ t tụng tham gia t tụng của toà n sơ thẩm là có vi phạm và thi u sót bởi lẽ GCNQSD đất mang tên của bà L2, do đó cần đưa c c thành viên trong hộ bà Th i Thị Lụa l anh M, chị L1 vào tham gia t tụng, cần x c định anh Đ1 là hàng th a k thứ nhất, việc toà sơ thẩm không đưa anh M, chị L1, anh Đ1 vào tham gia t tụng với tư c ch người k th a quyền và nghĩa vụ t tụng là vi phạm t tụng. Toà án cấp sơ thẩm ra Quy t định đưa vụ án ra xét xử ngày 28/6/2023 nhưng đ n ngày 28/8/2023 toà sơ thẩm ti p tục ra thông báo nộp án phí đ i với anh M, đồng thời anh M không có đơn yêu cầu độc lập nào là vi phạm quy định tại Điều 195, 196 của BLTTDS.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh ph t biểu về sự tuân theo ph p luật của Thẩm ph n - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử t khi thụ lý vụ n đ n trước khi nghị n đã thực hiện đúng c c quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Quan điểm giải quy t vụ án của đại diện Viện kiểm sát: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kh ng c o của bị đơn, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm s 17/2023/DSST ngày 25/8/2023 Toà án nhân dân thành ph Ph Yên, tỉnh Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào k t quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý ki n, Hô i đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
. Bị đơn bà Đinh Thị T2 và anh Nguy n Văn Đ kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp dự phí kh ng c o là hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về sự có mặt của những người tham gia t tụng: Tại phiên toà vắng mặt bà T2, anh M, chị L1, anh Đ1, tuy nhiên những người này đã được t ng đạt hợp lệ và có văn bản ý ki n gửi Toà n, do đó Hội đồng xét xử quy t định xét xử vắng mặt những người này.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của bị đơn thấy:
. Về hàng th a k : Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều th ng nhất x c định hàng th a k của cụ Nguy n Văn N và cụ Thái Thị L2 gồm có 03 người là: Bà H, bà L và ông C. Cụ N ch t năm 1992, cụ L2 ch t năm 2010, ông C ch t năm 2017, ông C ch t sau cụ N và cụ L2 nên kỷ phần th a k ông C được hưởng sẽ được chia cho vợ, con ông C là bà T2, anh M, chị L1, anh Đ.
Về xác định di sản th a kế của cụ Nguyễn Văn N và cụ Thái Thị L2:
. C c đương sự đều th a nhận thửa đất 149, tờ bản đồ s 63 (110-III) đã được UBND huyện N2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AN 861293 ngày 06/5/2009 mang tên hộ bà Thái Thị L2 (cấp đ i) có nguồn g c do vợ chồng cụ Nguy n Văn N và cụ Thái Thị L2 tạo lập t khi hai cụ xây dựng gia đình với nhau, do vậy, x c định đây là di sản th a k của cụ N và cụ L2. Ngoài ra, anh Nguy n Văn Đ còn trình bày cụ N và cụ L2 còn để lại một s thửa ruộng ở xã M hiện đang do anh quản lý sử dụng. Tuy nhiên, bà H và bà L chỉ đề nghị giải quy t tranh chấp đ i với phần di sản là thửa đất 149, tờ bản đồ s 63 (110-III), có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.695 m2. C c đồng th a k cũng không đề nghị chia di sản th a k nào khác. Do đó, Tòa n cấp sơ thẩm x c định di sản của cụ N và cụ Lụa là thửa đất 149, tờ bản đồ s 63 (110-III), thuộc xóm C, xã M, thành ph P, t đó phân chia di sản cho c c hàng th a k là đúng quy định của ph p luật.
. Xét việc chia di sản th a k của cụ N và cụ L2, thấy:
Qu trình giải quy t c c đương sự đều x c định cụ N và cụ L2 khi ch t đều không để lại di chúc đây là tình ti t không phải chứng minh, do vậy Tòa n cấp sơ thẩm chia di sản th a k của cụ N và cụ L2 theo ph p luật là có căn cứ.
Sau khi bà H và bà L lập gia đình, ông C ti p tục ở cùng cụ N và cụ L2, năm 1982 ông C xây dựng gia đình với bà T2, năm 1992 cụ N ch t vợ chồng ông C và các con ti p tục ở cùng cụ L2 đ n năm 1995 do mâu thuẫn nên gia đình ông C đã làm nhà ra ở riêng, cụ L2 một mình ở trên đất. Đ n năm 2009 cụ L2 quay về ở với vợ chồng ông C, bà T2, năm 2010 cụ L2 ch t. Kể t khi cụ L2 ch t gia đình ông C là người trực ti p quản lý di sản. Năm 2017 ông C ch t, bà T2 và anh Đ ti p tục quản lý, sử dụng và trông coi di sản. Do vậy, Tòa n cấp sơ thẩm tính công sức cho người có công chăm sóc người để lại di sản và công sức quản lý di sản (ông C) bằng ½ kỷ phần th a k là phù hợp.
Việc phân chia di sản th a k của Tòa n cấp sơ thẩm cho c c hàng th a k của cụ N và cụ L2 đảm bảo sự công bằng, c c kỷ phần được chia có gi trị tương đương nhau.
. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Đinh Thị T2 vắng mặt và anh Nguy n Văn Đ có mặt những không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới để chứng minh cho kháng cáo của mình về yêu cầu hủy bản n sơ thẩm s 17/2023/DSST ngày 25/8/2023 của Tòa n nhân dân thành ph Ph Yên là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên nội dung bản n dân sự sơ thẩm.
[7.] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
[8.] Về n phí: C c đương sự phải chịu n phí sơ thẩm trên t ng gi trị di sản được chia. Do kh ng c o của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu n phí phúc thẩm theo quy định
[9.] Về chi phí t tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí t tụng và đã chi phí xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 300; Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự; Nghị quy t s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng n phí và lệ phí Tòa n,
1. Không chấp nhận kh ng c o của bị đơn bà Đặng Thị T và anh Nguy n Văn Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm s 17/2023/DS-ST ngày 25/8/2023 Toà án nhân dân thành ph Ph Yên, tỉnh Th i Nguyên.
2. Về n phí dân sự phúc thẩm: Bà Đặng Thị T và anh Nguy n Văn Đ mỗi người phải chịu 300.000đ n phí dân sự phúc thẩm, được đ i tr vào s tiền tạm ứng n phí đã nộp tại biên lai thu s 0001611 và 001610 ngày 18/9/2023 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Ph Yên, tỉnh Th i Nguyên.
3. Các quy t định khác của bản án dân sự sơ thẩm s 17/2023/DSST ngày 25/8/2023 Toà án nhân dân thành ph Ph Yên, tỉnh Th i Nguyên không có kh ng c o, kh ng nghị nên có hiệu lực ph p luật kể t ngày h t thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.
Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được Thi hành án Dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành n theo quy định tại c c điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể t ngày tuyên n./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Th i Nguyên; - TAND TP. Ph Yên; - THADS TP. Ph Yên; - C c đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn ch Yên |