vanban.org

Bản án 41

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung 2017; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như S 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyen Như S Điều 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

N

Ủ N

N M

N P

O

c

- d - nh h c T N

N

NG Bản án số: …./2020/HS-ST. Ngày 23-6-2020.

NHÂN DANH

N Ớ

N

Ủ N

N M

N N N N

N P

O, N

N

N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Chang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Phương Dung;

Ông Kim Niệm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương x t xử sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 35/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Như S, sinh năm 1985 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Tổ 2, khu phố PH, phường TH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn Như T, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966; tiền án: Không, tiền sự: Kh ng; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Trần Hoàng L, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long (Chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lưu Hùng Cường E, sinh năm 1987 (Là chồng bị hại); Nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; có mặt.

2. Ông Lưu Hùng Cường E, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

3. Cháu Lưu Hữu T, sinh năm 2014; Nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Đại diện hợp pháp của cháu T: Ông Lưu Hùng Cường E, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Như T, sinh năm 1963; Nơi ĐKHKTT: Tổ 2, khu phố PH, phường TH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Cháu Lưu Thị Kiều O, sinh năm 2006 và cháu Lưu Thúy K, sinh năm 2003 (Là con của bị hại bà Trần Hoàng L); Cùng nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Đại diện hợp pháp của cháu T: Ông Lưu Hùng Cường E, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Ấp BH 1, xã HT, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1975; Nơi ĐKHKTT: 43 Đường 8 khu phố 1, phường LĐ, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

N

N Ụ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Như S có giấy ph p lái xe số 740114011711 hạng C do Sở giao th ng vận tải tỉnh Bình Dương cấp. Khoảng 20 giờ ngày 21/10/2019, Nguyễn Như S điều khiển xe t biển số 54U-2342 lưu th ng trên đường ĐT741 theo hướng từ tỉnh Bình Dương đi tỉnh Bình Phước. Khi Sơn điều khiển xe đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 741 với đường ĐH 513, thuộc ấp BR, xã VH, huyện Phú Giáo thì Sơn cho xe dừng tín hiệu đèn đỏ ở làn đường xe t tải (cách đèn đỏ khoảng 20 m t), lúc này phía trước xe t của Sơn có xe t khác cũng đang dừng đèn đỏ nên Sơn kh ng quan sát thấy xe m biển số 64G1-086.75 do anh Lưu Hùng Cường E điều khiển chở chị Trần Hoàng L và con Lưu Hữu T, sinh năm 2014 cũng đang dừng chờ đèn đỏ phía trước cùng chiều trên làn đường dành cho xe m t . Sau khi đèn tín hiệu giao th ng chuyển sang tín hiệu đèn xanh thì Sơn tiếp tục điều khiển xe t di chuyển về phía trước. Khi xe t vào giữa giao lộ thì xảy ra va chạm với xe mô tô do anh E điều khiển đang đi phía trước cùng chiều. Tai nạn xảy ra làm chị L chết trên đường đi cấp cứu, anh E và cháu T bị thương tích, 02 phương tiện bị hư hỏng (BL 66 -71, BL 94 - 99).

Bản kết luận giám định giám định pháp y tử thi số 861/GĐPY ngày 24/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Hoàng L là do đa chấn thương.

Bản kết luận định giá tài sản, ngày 09/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận giá trị thiệt hại của xe m t biển số 64G1-086.75, số khung B10DY-194410, số máy 1DB1-194424 là 850.000 đồng (Tám trăm năm mươi ngàn đồng).

Bản kết luận giám định số 166/GĐCH-PC09 ngày 29/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận:

+ Vị trí va chạm giữa xe t biển số: 54U-2342 với xe m t biển số: 64G1-086.75 là dấu vết trượt bám dính màu đen có chiều từ trước về sau ở cạnh trước góc dưới bên phải thùng xe t phù hợp va chạm vào mặt sau đầu tay lái bên trái của xe m t ; vết trượt xước cạnh ngoài ốp nhựa thân xe bên trái của xe m t phù hợp va chạm mặt ngoài cản h ng bên phải thùng xe ô tô.

+ Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước bên trái đầu vết cày (ký hiệu số 2 trên sơ đồ hiện trường), thuộc trong khu vực giao lộ giữa đường ĐT 741 với đường ĐH 513.

+ Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe t biển số: 54U-2342 với xe m t biển số 64G1-086.75 là hai xe đang lưu th ng cùng chiều trên đoạn đường ĐT 741 hướng Bình Dương đi Bình Phước, khi tới đoạn giao nhau với đường ĐH 513, thuộc ấp BR, xã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì xảy ra va chạm làm xe m t đỗ ngã qua trái, trượt trên mặt đường tạo ra các dấu vết trên phương tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSPG, ngày 19/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Như S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng x t xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Như S mức hình phạt từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 250.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường nên kh ng xem x t.

Về xử lý vật chứng: Trả lại giấy ph p lái xe hạng C cho bị cáo Nguyễn Như S.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Như S thừa nhận hành vi tham gia giao th ng đường bộ, gây tai nạn giao th ng làm chết 01 người, bị thương 02 người. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 250.000.000 đồng; bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo xin được hưởng án treo và kh ng có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Lưu Hùng Cường E thừa nhận đã nhận bồi thường xong số tiền 250.000.000 đồng của bị cáo và kh ng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường; về hình phạt, đề nghị Hội đồng x t xử xem x t giảm nh hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo; ngoài ra, không có yêu cầu khác.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự bà Nguyễn Thị Thu C vắng mặt, tuy nhiên lời khai trong quá trình tố tụng thừa nhận xe t biển số 61C-54U-2342 là của bà đã bán lại cho ng Nguyễn Như T, bà đã nhận tiền đầy đủ và kh ng có yêu cầu gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng x t xử xem x t giảm nh hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

N ẬN ỊN Ủ

N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, bị đơn dân sự kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Như S thừa nhận ngày 21/10/2019, bị cáo điều khiển xe t biển số 54U-2342 lưu th ng trên đường ĐT741, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT741 và đường ĐH513 bị cáo đã vượt lên và va chạm với xe m t biển số 64G1-086.75 do ông Lưu Hùng Cường E điều khiển chở bà Trần Hoàng L và cháu Lưu Hữu T đi cùng chiều phía trước. Hậu quả làm bà Trần Hoàng L chết, ng Lưu Hùng Cường E, cháu Lưu Hữu T bị thương nh , xe m bị hư hỏng.

[3] Căn cứ Bản kết luận giám định giám định pháp y tử thi số 861/GĐPY ngày 24/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Hoàng L là do đa chấn thương.

Bản kết luận định giá tài sản, ngày 09/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận giá trị thiệt hại của xe m t biển số 64G1-086.75, số khung B10DY-194410, số máy 1DB1-194424 là 850.000 đồng (Tám trăm năm mươi ngàn đồng).

Bản kết luận giám định số 166/GĐCH-PC09 ngày 29/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận:

+ Vị trí va chạm giữa xe t biển số: 54U-2342 với xe m t biển số: 64G1-086.75 là dấu vết trượt bám dính màu đen có chiều từ trước về sau ở cạnh trước góc dưới bên phải thùng xe t phù hợp va chạm vào mặt sau đầu tay lái bên trái của xe mô t ; vết trượt xước cạnh ngoài ốp nhựa thân xe bên trái của xe m t phù hợp va chạm mặt ngoài cản h ng bên phải thùng xe t .

+ Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước bên trái đầu vết cày (ký hiệu số 2 trên sơ đồ hiện trường), thuộc trong khu vực giao lộ giữa đường ĐT 741 với đường ĐH 513.

+ Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe t biển số: 54U-2342 với xe m t biển số 64G1-086.75 là hai xe đang lưu th ng cùng chiều trên đoạn đường ĐT 741 hướng Bình Dương đi Bình Phước, khi tới đoạn giao nhau với đường ĐH 513, thuộc ấp BR, xã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì xảy ra va chạm làm xe m t đỗ ngã qua trái, trượt trên mặt đường tạo ra các dấu vết trên phương tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

[4] Hành vi của bị cáo Nguyễn Như S điều khiển xe t kh ng tuân thủ Luật Giao th ng đường bộ (vượt xe nơi đường giao nhau theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 14 Luật Giao th ng đường bộ) gây tai nạn giao th ng làm chết 01 người, bị thương 02 người và hư hỏng tài sản.

[5] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn Như S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[7] Hành vi của bị cáo Nguyễn Như S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao th ng đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người tham gia giao th ng. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Kh ng có.

[9] Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nh hình phạt; bị cáo gia đình có hoàn cảnh khó khăn có sự xác nhận của địa phương, do đó, Hội đồng x t xử áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nh hình phạt cho bị cáo.

[10] Do bị cáo Nguyễn Như S có nhiều tình tiết giảm nh , kh ng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, r ràng, có nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ, bị cáo có khả năng tự cải tạo, giáo dục và nếu kh ng bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì kh ng gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội lần đầu, khi quyết định hình phạt kh ng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội; vì thế, Hội đồng x t xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[11] X t ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[12] X t ý kiến của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, bị đơn dân sự là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[13] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, kh ng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên Hội đồng x t xử kh ng xem x t. Số tiền 250.000.000 đồng là của ng Nguyễn Như T hỗ trợ bị cáo bồi thường, tại đơn xin x t xử vắng mặt ng Nguyễn Như T kh ng yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên nên HĐXX không xem xét.

[14] Về xử lý vật chứng: X t thấy kh ng cần thiết cấm bị cáo hành nghề lái xe nên cần trả lại Giấy ph p lái xe hạng C cho bị cáo.

[15] Về án phí sơ th m: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q Ế ỊN :

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 48; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như S 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 23/6/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Như S cho Ủy ban nhân dân phường TH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Như S thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định để giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái xe t hạng C số 740114011711 mang tên Nguyễn Như S do Sở Giao th ng vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 11/3/2016, có giá trị đến ngày 11/3/2021.

Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/4/2020.

4. Về án phí hình sự sơ th m: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Như S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị đơn dân sự, bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ