- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm Lò Văn N, phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HSST. Ngày: 06 - 02 - 2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lường Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Mai;
Bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại Phân khu Chiềng La, thuộc Cơ sở cai nghiện ma tuý - Phòng PC04 - Công an tỉnh Sơn La, Toà án nhân dân khu vực 2
- Sơn La mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2026/HSST, ngày 22 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2026/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Lò Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/5/1989; tại xã QN, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu S, xã QN, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lò Văn B, sinh năm: 1964 và bà Quàng Thị D, sinh năm: 1958; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Năm 2007 bị Toà án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: Chống người thi hành công vụ; bị cáo bị bắt ngày 12/11/2025. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/11/2025 Công an xã QN, tỉnh Sơn La triệu tập Lò Văn N là bệnh nhân đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế tại Cơ sở điều trị Methadone Trung tâm Y tế khu vực Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La (Theo Quyết định số 541/QĐ-UBND, ngày 23/10/2025 của Uỷ ban nhân dân xã QN, tỉnh Sơn La, theo bệnh án có mã số bệnh nhân là 3030700092, thời hạn điều trị bắt đầu từ ngày 24/10/2025 và không có thời gian kết thúc điều trị) lên làm việc. Tại Công an xã QN, tỉnh Sơn La, Lò Văn N đã thừa nhận ngày 08/11/2025 Lò Văn N đã sử dụng trái phép chất ma tuý, loại ma tuý sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là đốt hít.
Công an xã QN, tỉnh Sơn La đã phối hợp với Trạm y tế xã QN, tỉnh Sơn La tiến hành test nhanh qua nước tiểu đối với Lò Văn N. Kết quả dương tính với chất ma tuý.
Ngày 12/11/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành thu thập mẫu nước tiểu của Lò Văn N, ký hiệu M1 làm mẫu gửi giám định để xác định chất, loại ma tuý Lò Văn N sử dụng.
Tại Kết luận giám định độc chất số: 1369/KL - KTHS, ngày 17/11/2025 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có chất ma tuý, loại Methadone và Morphin”, ngoài ra không tìm thấy các chất ma tuý khác.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 19 giờ, ngày 08/10/2025, Lò Văn N đi xe buýt từ trung tâm xã QN, tỉnh Sơn La đến khu vực bản Lụa, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La rồi xuống xe và bắt xe ôm của một nam giới không rõ danh tính vào bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La mục đích để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến đầu bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Lò Văn N xuống xe đi bộ vào trong bản, trên đường đi Lò Văn N gặp và hỏi mua được của một nam giới (Lò Văn N không biết họ tên tuổi địa chỉ nơi cư trú) 01 gói ma túy loại Heroine được gói bằng nilon màu trắng với số tiền 125.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lò Văn N cầm gói ma túy đi vào khu vực đồi cà phê thuộc địa phận bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La để sử dụng ma tuý. Lò Văn N xé lấy mảnh giấy bạc từ trong bao thuốc lá, cho hết số Heroine có trong gói nilon màu trắng vừa mua được vào mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa hơ, đốt ma tuý thành khói đưa lên miệng, mũi hít vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, Lò Văn N vò mảnh giấy bạc vứt tại nơi sử dụng, còn chiếc bật lửa Lò Văn N cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ ra đường Quốc lộ đón xe buýt quay về xã QN, tỉnh Sơn La.
Đến khoảng 07 giờ ngày 12/11/2025, Tổ công tác Công an xã QN, tỉnh Sơn La triệu tập Lò Văn N lên trụ sở Công an xã QN, tỉnh Sơn La làm việc theo kế hoạch tổng rà soát các đối tượng điều trị nghiện ma túy trên địa bàn. Lò Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình và tự giác giao nộp 01 (Một) chiếc bật lửa gas màu vàng là chiếc bật lửa Lò Văn N đã dùng để sử dụng ma túy vào ngày 08/11/2025.
Ngày 12/11/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành khám xét chỗ ở của Lò Văn N. Kết quả không phát hiện, thu giữ được gì.
Ngày 12/11/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả không thu giữ được vật chứng gì.
Ngày 31/12/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La ra Quyết định thực nghiệm điều tra, cho Lò Văn N diễn lại tư thế, động tác thực hiện hành vi khi Lò Văn N sử dụng trái phép chất ma tuý. Quá trình thực nghiệm điều tra đã phù hợp với lời khai nhận của Lò Văn N trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Cáo trạng số: 49/CT-VKS - KV2, ngày 20/01/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố ra trước Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La để xét xử bị cáo Lò Văn N về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn N về điểm, điều, khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Lò Văn N mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tich thu tiêu huỷ: 01 bật lửa gas màu vàng, tại đầu bật lửa có chữ “H-VIET”, đã qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo Lò Văn N phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với nội dung bản Cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Bị cáo Lò Văn N thừa nhận: Bị cáo đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo Quyết định số: 541/QĐ-UBND ngày 23/10/2025 của Uỷ ban nhân dân xã QN, tỉnh Sơn La, theo bệnh án có mã số bệnh nhân là 3030700092 tại cơ sở điều trị Methadone của Trung tâm Y tế khu vực Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Thời gian điều trị bắt đầu từ ngày 24/10/2025 và không có thời gian kết thúc điều trị. Ngày 08/11/2025 Lò Văn N đã đi mua ma tuý loại Heroine và sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức đốt, hít chất ma túy vào cơ thể tại khu vực đồi cà phê thuộc địa phận bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định độc chất của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, các bản tự khai của bị cáo; Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/11/2025 Lò Văn N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý khi đang điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Hành vi của Lò Văn N đã phạm vào tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn N là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng với lỗi cố ý, bị cáo nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma tuý khi khi đang điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn N có tiền án, tuy đã được đương nhiên xoá án tích, là nhân thân xấu.
Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung. Nhất là công tác phòng chống tội phạm và tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.
. Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người nam giới, tại khu vực bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La là người Lò Văn N khai đã bán ma tuý cho Lò Văn N, tuy nhiên Lò Văn N không biết họ và địa chỉ cụ thể, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xử lý, cần được chấp nhận.
Đối với 01 mảnh giấy bạc Lò Văn N dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, Lò Văn N đã vứt tại nương cà phê thuộc bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường, truy tìm vật chứng, kết quả: Không tìm thấy vật chứng, do vậy không đề cập đến vấn đề xử lý.
Đối với 01 bật lửa gas màu vàng, tại đầu bật lửa có chữ “H-VIET”, đã qua sử dụng quá trình khám xét thu giữ được của Lò Văn N, là phương tiện dùng vào việc sử dụng ma tuý và là vật không còn giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông lái xe ôm chở Lò Văn N vào Bản Thôm, xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La để đi tìm mua ma tuý vào ngày 08/11/2025. Do Lò Văn N không biết tên, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Lò Văn N ra không có chứng cứ nào khác, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xử lý, cần chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo Lò Văn N phải chịu toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Lò Văn N 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/11/2025.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tich thu tiêu huỷ: Một bật lửa gas màu vàng, tại đầu bật lửa có chữ “H-VIET”, đã qua sử dụng, (vật chứng được đựng trong một phong bì thư niêm phong, dán kín, giấy niêm phong số 0089011), theo Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ-VKS-KV2 ngày 13/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La và được mô tả chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/01/2026 giữa Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Sơn La.
3. Về Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lò Văn N phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06 tháng 02 năm 2026)./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Sơn La; - VKSND Tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2 - Sơn La; - Phòng PV06 Công an tỉnh; - Trại giam Công an tỉnh; - Cơ quan THA hình sự Công an tỉnh; - Phòng THADS khu vực 2 – Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |