vanban.org

Bản án 41/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vy Văn V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có“.

Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn V 05 (Năm) tháng 12 (Mười hai) ngày tù giam. Thời hạn tù, tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2025. Thời hạn tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Văn V - chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vy Văn V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có“.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 41/2026/HS-ST
Ngày: 26/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Mai và bà Lê Thị Ngọc Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị cáo:

Vy Văn V, tên gọi khác: Không, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2006 tại Quảng Ngãi. Nơi thường trú: Thôn A, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số định danh cá nhân: 062206007546 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Bộ C2 cấp ngày 11/10/2023; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vy Văn E, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị Ánh H, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/12/2021 bị Công an thành phố K xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.

Ngày 13/01/2022, bị Công an thành phố K xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 16/10/2025 đến nay có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Hồ Quốc C, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số C P, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt)

2/ Anh Phạm Công H1, sinh năm 2008, địa chỉ: G T, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam G. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3/ Anh Đinh Trung H2, sinh ngày 30/10/2008;

Đại diện hợp pháp cho Đinh Trung H2: Bà Nguyễn Thị Kim T (mẹ ruột).

Đều trú tại: Số G L, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

4. Bà Phạm Thị Ánh H3, sinh năm 1970

Trú tại: Thôn A, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Đặng Ngọc L, sinh năm 2009. Địa chỉ: Số E Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Đại diện hợp pháp cho Đặng Ngọc L: Bà Nguyễn Thị Mỹ D. Địa chỉ: Số E Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ sáng ngày 01/4/2024, Phạm Công H1 uống cà phê tại khu vực bùng binh cầu Đ, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum thì gặp Đinh Trung H2 đến cùng ngồi uống cà phê tại đây. Vy Văn V và Phạm Công H1 thấy Đinh Trung H2 có 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Realme C55, màu đen nên Phạm Công H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Vy Văn V điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu trắng (Không nhớ rõ biển số, xe của bà Phạm Thị Ánh H3) chở Phạm Công H1, khi đi Phạm Công H1 có mang theo 01 (Một) thanh sắt hình chữ nhật, dẹp, màu trắng, dài khoảng 15 cm, 01 đầu nhọn (do Phạm Công H1 nhặt được trên đường trước đó) cất giấu trong người đến gặp và rủ Đinh Trung H2 đi chơi cùng nhưng Đinh Trung H2 không đi mà lên xe mô tô đi chơi cùng với Đặng Ngọc L. Thấy vậy nên Vy Văn V điều khiển xe mô tô chở Phạm Công H1 đi theo. Đến đoạn trước khách sạn I, phường Q, TP K, tỉnh Kon Tum (nay phường K, tỉnh Quảng Ngãi) Phạm Công H1 nói Vy Văn V điều khiển xe ép xe của Đinh Trung H2 lại rồi nói Đinh Trung H2 “Mày lên xe tao chở về” Đinh Trung H2 nghe vậy nên lên xe của Vy Văn V ngồi ở giữa Vy Văn V và Phạm Công H1 còn Đặng Ngọc L điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau đó, Vy Văn V điều khiển xe mô chở Phạm Công H1 và Đinh Trung H2 ra Khu trung tâm hành chính tỉnh Kon Tum (Khu A). Trên đường đi, Phạm Công H1 nói Đinh Trung H2 cho Phạm Công H1 mượn điện thoại vài ngày để xài rồi trả lại nhưng Đinh Trung H2 không đồng ý. Khi đi đến đoạn đường gần nhà Khách Công an tỉnh K thuộc phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (nay phường K, tỉnh Quảng Ngãi) thì Phạm Công H1 dùng cây sắt kề sát cổ Đinh Trung H2 để uy hiếp và nói " Đưa điện thoại" làm Đinh Trung H2 sợ phải đưa chiếc điện thoại Realme C55, màu đen cho Phạm Công H1. Sau khi lấy được điện thoại, Phạm Công H1 nói Vy Văn V chở Đinh Trung H2 về lại nhà Đinh Trung H2. Khi chở Đinh Trung H2 về nhà, Vy Văn V điều khiển xe mô tô chở Phạm Công H1 mang chiếc điện thoại trên đến tiệm mua bán điện thoại và Cầm đồ Minh Đ địa chỉ C P, phường L, TP K, tỉnh Kon Tum, khi đến tiệm điện thoại Phạm Công H1 nói với Vy Văn V là điện thoại vừa lấy được của Đinh Trung H2 mang bán để tiêu xài và Vy Văn V đồng ý bán điện thoại cho Hồ Quốc C (Chủ tiệm mua bán điện thoại và Cầm đồ Minh Đ, Sinh năm 1986) với giá 900.000đồng (Chín trăm nghìn đồng) và cùng nhau tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Tại bản kết luận định giá số 27/KL-HĐ, ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố K, tỉnh Kon Tum xác định giá trị thiệt hại của 01 (Một) điện thoại Realme C55, màu đen tại thời điểm chiếm đoạt là 4.240.000 đồng(Bốn triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Sau khi vụ án xảy ra, Vy Văn V bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã tiến hành nhiều biện pháp điều tra xác minh nhưng không rõ Vy Văn V đang ở đâu. Ngày 28/04/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K, nay là Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Q đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 539/QĐ-VPCQCSĐT, để tiếp tục điều tra. Tại bản án phúc thẩm ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, xét xử Phạm Công H1 về tội "Cướp tài sản" quy định tại tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, mức án 28 tháng tù giam hiện nay Phạm Công H1 đang chấp hành án tại Trại giam G - Bộ C2. Đến ngày 16/10/2025, Vy Văn V đến Công an phường K, tỉnh Quảng Ngãi đầu thú về hành vi của mình có liên quan đến vụ án trên.

*Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01(một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Realme C55, màu đen (đã qua sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh K (cũ) đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả 01(một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Realme C55, màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là Đinh Trung H2 (trong vụ án khác).

- Đối với 01 (một) thanh sắt hình chữ nhật, dẹp, màu trắng, dài khoảng 15cm, đầu nhọn, sau khi gây án thì Phạm Công H1 đã ném gần hiện trường, tuy nhiên, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được;

- Đối với xe mô tô kiểu dáng Wave màu trắng (không xác định được biến kiểm soát). Sau khi Vy Văn V sử dụng vào ngày 01/4/2024, đến khoảng tháng 12/2024, bà Phạm Thị Ánh H (sinh năm 1970 là mẹ ruột của Vy Văn V) đã bán đi cho người khác (không xác định nhân thân, lai lịch);

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Đinh Trung H2, đại diện hợp pháp của H2 và anh Hồ Quốc C1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Cáo trạng số 29/CT-VKSKV7 ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi truy tố bị cáo Vy Văn V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vy Văn V.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, tuyên bố bị cáo Vy Văn V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có“, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án bằng thời hạn bị cáo bị tạm giam và tuyên trả tự do ngay tại phiên toà đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đã được xử lý nên không đề cập đến.

Về trách nhiệm dân sự: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm, và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của Đinh Trung H2, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng gì đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 01/4/2024, Vy Văn V không bàn bạc, thoả thuận, hứa hẹn trước với Phạm Công H1 về việc chiếm đoạt tài sản của Đinh Trung H2. Tuy nhiên sau khi Phạm Công H1 thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Đinh Trung H2, Vy Văn V biết rõ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Realme C55, màu đen của Đinh Trung H2 là tài sản do Phạm Công H1 phạm tội mà có nhưng vẫn cùng với Phạm Công H1 bán điện thoại với số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) và cùng tiêu xài cá nhân hết. Hành vi không hứa hẹn trước, mặc dù biết tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý đi tiêu thụ nhằm hưởng lợi cá nhân của Vy Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong vụ án này, khi điều tra truy tố và xét xử đối với hành vi của Phạm Công H1, bị cáo V không ở địa phương do đó đối với hành vi theo lời khai trong hồ sơ xét xử Phạm Công H1 thể hiện bị cáo V vai trò đồng phạm biết, bàn bạc, và tham gia về hành vi cướp tài sản cùng Phạm Công H1, nội dung này HĐXX đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung xem bị cáo Vy Văn V có đồng phạm một tội phạm khác hay không; tuy nhiên, sau khi trả hồ sơ để điều tra bổ sung VKSND khu vực 7 – Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố ban đầu vì quá trình điều tra, truy tố ngoài lời khai của Phạm Công H1 thì không có chứng cứ trực tiếp thể hiện giữa hai bị cáo bàn bạc thống nhất “Cướp tài sản“. Vì vậy, theo quy định giới hạn của việ xét xử, Toà án chỉ xét xử bị cáo và tội danh do VKS truy tố.

Do đó, Cáo trạng số 29/CT-VKSKV7 ngày 30/12/2025 và công văn số 35/VKSKV7 ngày 02/3/2026 giữ nguyên Quyết định truy tố của của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội khi đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng trặng trách nhiệm hình sự nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thực hiện hành vi phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bản thân bị cáo có nhân thân xấu.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mặt khác bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm chưa đủ 18 tuổi, do đó áp dụng những quy định Luật tư pháp người chưa thành niên phạm tội cho bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, vì vậy xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đã được xử lý trong vụ án Phạm Công H1, do đó HĐXX không xem xét lại.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đinh Trung H2 và anh Hồ Quốc C trong quá trình điều tra không yêu cầu bồi thường gì, tại phiên toà vắng mặt nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này có yêu cầu gì có thể khởi kiện vụ án riêng .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Vy Văn V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có“.

2. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.

Xử phạt bị cáo Vy Văn V 05 (Năm) tháng 12 (Mười hai) ngày tù giam. Thời hạn tù, tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2025. Thời hạn tù bằng thời gian bị cáo bị tạm giam.

Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do ngay tại phiên toà đối với bị cáo đang bị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025; các Điều 6, 21 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vy Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2025. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (26/3/2026), bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ