- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn T phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HS-ST Ngày 12-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hoàng Phương;
2. Ông Nguyễn Văn Khương.
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Hưng- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Huế- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2026/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Lâm Văn T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1980 tại xã L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; căn cước công dân số 015080007462, cấp ngày 25-6-2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH Bộ C; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Quang H và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Nguyễn Thị P và có 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004) tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị xử phạt hành chính với số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐ-XPVPHC ngày 15-7-2014 của Công an huyện V, tỉnh Yên Bái; bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPVPHC ngày 12-12-2014 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Y; nhân thân: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26-9-2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Văn T là người nghiện chất ma túy đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiên bằng thuốc thay thế Methadone từ tháng 7 năm 2018 tại Trung Tâm y tế thị xã N, tỉnh Yên Bái. Ngày 02-7-2025 UBND xã L, tỉnh Lào Cai ra Quyết định số: 10/QĐ-UBND quyết định tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lâm Văn T, tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại khoa tư vấn và điều trị nghiện chất thuộc Trung Tâm y tế K1, thời gian điều trị từ ngày 02-7-2025.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025 tại khu vực thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai, Lâm Văn T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ; qua trao đổi T đã mua của người đàn ông nay 01 viên ma túy, loại hồng phiên với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy đến khoảng 16 giờ cùng ngày tại khu vực đồi chè ở phía sau Trạm y tế thị trấn N cũ thuộc thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai; Lâm Văn T lấy hộp sữa F đã chuẩn bị trước, đổ đi một nửa lượng sữa trong hộp, sau đó dục thêm một lỗ bên sườn hộp sữa, tiếp đó cho viên ma túy đã mua được trước đó lên giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng bên dưới giấy bạc làm cho viên ma tuý bóc khói, T cắm ống hút vào hộp sữa hít hết khói bốc lên từ viên ma túy thông qua lỗ đục thêm ở bên sườn hộp sữa vào cơ thể.
Vào hồi 10 giờ 05 phút, ngày 25-9-2025 Công an xã L, tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung Tâm y tế K1 xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể bằng que thử ma túy loại 04 chân đối với Lâm Văn T là người đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, kết quả trong mẫu nước tiểu của Lâm Văn T dương tính với chất ma túy, ký hiệu là “MET”. Công an xã L đã lấy mẫu nước tiểu của Lâm Văn T, niêm phong theo quy định để làm mẫu giám định.
Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 26-9-2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy của Lâm Văn T tại khu vực đồi chè thuộc thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai và tiến hành truy tìm vật chứng có liên quan là 01 hôp sữa Fami màu vàng, có một lỗ thủng ở bên sườn; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá đã bị đốt và 01 bật lửa ga màu xanh lá cây, đã qua sử dụng. Kết quả: Không phát hiện đồ vật có đặc điểm tương đồng với vật chứng cần truy tìm.
Ngày 25-9-2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã ra quyết định trưng cầu giám định số: A153/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P giám định chất ma túy.
Kết luận giám định số: 1292/KL-KTHS ngày 26-9-2025 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Lâm Văn T; sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, Amphetamine. Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-08-2022 của Chính phủ; Amphetamine: Số thứ tự 5, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-08-2022 của Chính phủ.
Cáo trạng số: 21/CT-VKS-KV5 ngày 19-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lâm Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lâm Văn T khai: Từ khi tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm y tế, bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 22-9-2025 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 100ml mẫu nước tiểu của Lâm Văn T được thu vào 01 chai nhựa màu trắng, có nắp xoáy màu đen, đóng kín, được niêm phong bằng một tờ giấy trắng, cơ quan giám định đã dùng làm mẫu giám định, không hoàn lại đối tượng giám định nên không đặt ra xem xét, xử lý trong vụ án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghịsố: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là sai, là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Lâm Văn T là người nghiện chất ma túy đang tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiên bằng thuốc thay thế Methadone từ tháng 7 năm 2018 tại Trung Tâm y tế thị xã N, tỉnh Yên Bái; đến ngày 02-7-2025 UBND xã L, tỉnh Lào Cai ra Quyết định số 10/QĐ-UBND quyết định tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lâm Văn T, tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại khoa tư vấn và điều trị nghiện chất thuộc Trung Tâm y tế K1, thời gian điều trị từ ngày 02-7-2025.
Vào khoảng 16 giờ 22-9-2025 tại khu vực đồi chè ở phía sau Trạm y tế thị trấn N cũ thuộc thôn B, xã L, tỉnh Lào Cai; Lâm Văn T đã lấy viên ma túy đã mua được trước đó ra sử dụng bằng hình thức cho viên ma túy lên giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng bên dưới giấy bạc làm cho viên ma tuý bốc khói, tiếp đó cắm ống hút vào hộp sữa Fami hít hết khói bốc lên từ viên ma túy thông qua lỗ đục thêm ở bên sườn hộp sữa vào cơ thể.
Vào hồi 10 giờ 05 phút, ngày 25-9-2025 Công an xã L, tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung Tâm y tế K1 xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể bằng que thử ma túy loại 04 chân đối với Lâm Văn T, kết quả trong mẫu nước tiểu của Lâm Văn T dương tính với chất ma túy, ký hiệu là “MET”. Công an xã L đã lấy mẫu nước tiểu của Lâm Văn T, niêm phong theo quy định để làm mẫu giám định.
Kết luận giám định số: 1292/KL-KTHS ngày 26-9-2025 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Lâm Văn T; sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú thôn A, xã L, tỉnh Lào Cai gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, Amphetamine. Methamphetamine: Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-08-2022 của Chính phủ; Amphetamine: Số thứ tự 5, Danh mục IIB, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25-08-2022 của Chính phủ;
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời gian tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định của luật phòng, chống ma túy của bị cáo Lâm Văn T đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật hình 2015 được sửa đổi bổ sung vào năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25-6-2025 của Quốc hội.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Bị cáo Lâm Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thức hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời gian tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người sử dụng; sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại trật tự an toàn xã hội.
Xét nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự, bị xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hiện bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy. Do đó cần xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Từ trước đến nay bị cáo chưa phạm tội lần nào, tội phạm bị cáo đã thực hiện thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 100ml mẫu nước tiểu của Lâm Văn T được thu vào 01 chai nhựa màu trắng, có nắp xoáy màu đen, đóng kín, được niêm phong bằng một tờ giấy trắng, cơ quan giám định đã dùng làm mẫu giám định, không hoàn lại đối tượng giám định nên không đặt ra xem xét, xử lý trong vụ án.
- Đối với 01 hôp sữa Fami màu vàng, có một lỗ thủng ở bên sườn; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá đã bị đốt và 01 bật lửa ga màu xanh lá cây, đã qua sử dụng Lâm Văn T khai đã dùng để sử dụng ma túy. Quá trình điều tra không thu thập được những vật chứng này nên không đặt ra để xem xét, xử lý trong vụ án.
Các đối tượng và hành vi có liên quan:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo Lâm Văn T tại khu vực thôn Bản Giõng, xã L, tỉnh Lào Cai. Do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người bán ma túy, nên cơ quan điều tra Công an tỉnh L không đủ cơ sở để điều tra, làm rõ.
Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sở thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, là ngày 26-9-2025.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 5, tỉnh Lào Cai; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lào Cai (PC 04); - Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 5, tỉnh Lào Cai; - Bị cáo; - Lưu hs, TA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Lên |