- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C phạm tội “Đánh bạc” - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HS- PT Ngày: 07/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Bản
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân và ông Nguyễn Thế Doanh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Khánh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2026 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2026/TLPT-HS ngày 26/02/2026 do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
Họ và tên: Trần Văn C, sinh ngày 15/08/1977; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Sán Chay; Tôn giáo: không; Con ông: Trần Ngọc C1 (đã chết) và bà: Lê Thị C2; Vợ: Vương Thị G và có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC ngày 16/01/2023 của Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, phạt tiền 1.000.000 đồng. Ngày 18/01/2023 C đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/10/2025 đến ngày 17/10/2025 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện tại đang tại ngoại tại địa phương
(Có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị
(Tòa không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 11/10/2025, tổ công tác Công an xã V phát hiện, bắt quả tang tại lối đi lên đồi keo nhà ông Nông Văn V, sinh năm 1961 thuộc xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên 04 (bốn) đối tượng đang có hành vi đánh bạc, hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền.Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và giữ được các đối tượng Nguyễn Văn M, Ngô Văn T, Trần Văn C. Lợi dụng sơ hở đối tượng Dương Văn L bỏ chạy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 7.380.000 đồng (Bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tại vị trí các đối tượng đánh bạc, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ quân Át đến quân 9. Sau đó đưa đối tượng cùng vật chứng về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T giải quyết theo thẩm quyền.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Dương Văn L đến Công an xã V đầu thú, khai hành vi đánh bạc tại đồi cây của ông Nông Văn V.
Tại cơ quan điều tra Trần Văn C, Nguyễn Văn M, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1 khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 11/10/2025, L,T1, C và M đến ăn cơm mừng tân gia tại nhà anh Trần Văn H, sinh năm 1974 thuộc xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì ăn cơm, uống rượu xong, L nói “Tý anh em đi vui một tý” (Ý là rủ nhau đi đánh bạc), T1, C và M đồng ý. L nhìn thấy một bộ bài để dưới nền nhà anh H, L lọc ra 36 quân từ quân Át đến quân 9. Do có việc bận, M đi về nhà còn L, C và T1 đi bộ lên đồi cây của ông Nông Văn V, sinh năm 1961 thuộc xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên để đánh bạc hình thức đánh ba cây được thua bằng tiền, cả nhóm đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, M đi bộ đến khu vực đã hẹn với L, T1, C cùng tham gia đánh bạc với cả nhóm. Cả nhóm tiếp tục đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì Tổ công tác Công an xã V phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Về hình thức đánh ba cây: Người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 36 quân, theo thống nhất sẽ đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây với số tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Để chọn người cầm chương, người chơi bốc ngẫu nhiên một lá bài, người nào cao điểm hơn sẽ được cầm chương. Mỗi ván bài người chơi được chia 3 quân bài ngẫu nhiên, số bài còn lại không dùng đến xếp lại một tập không sử dụng. Sau đó, người chơi tính tổng số điểm của 3 quân bài được chia rồi so sánh số điểm này với số điểm của người cầm chương. Người nào có số điểm cao hơn thì người cầm chương phải trả tiền cho người đó số tiền là 10.000đ (Mươi nghìn đồng), ngược lại nếu người chơi có số điểm thấp hơn số điểm của người cầm chương thì những người đó phải trả tiền cho người cầm chương số tiền là 10.000đ (Mươi nghìn đồng). Trường hợp, nếu người chơi được 9 hoặc 10 điểm thì số tiền được hưởng là 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng).
Cách so thắng thua: Nếu người chơi và người cầm chương bằng điểm nhau thì sẽ so chất theo thứ tự từ cao đến thấp là Rô, C3, T2, B. Khi người chơi có số điểm là 10 cao hơn điểm của người cầm chương thì người đó được cầm chương, chia bài và lại tính điểm như trên.
Khi đánh bạc Dương Văn L bỏ ra số tiền 300.000đồng để đánh bạc; Trần Văn C bỏ ra số tiền 900.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn M bỏ ra số tiền 5.580.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Văn T1 bỏ ra số tiền 600.000 đồng để đánh bạc.
Như vậy tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc ngày 11/10/2025 là 7.380.000 đồng (Bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 7.380.000đ tiền ngân hàng N (01) một
phong bì niêm phong có ký hiệu B bên trong có chứa 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ Át đến 9. Hiện được bảo quản theo quy định.
Với hành vi nêu trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày
20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đã tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn C, Nguyễn Văn M, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, Điều 17, điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 09 (chín) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 11/10/2025 đến ngày 17/10/2025. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn C 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra tòa cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo, các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
Án sơ thẩm xử xong, ngày 26/01/2026 bị cáo Trần Văn C có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Trong phần phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề liên quan đến kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Tòa án tỉnh Thái Nguyên xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên theo hướng áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giữ nguyên mức án cho bị cáo C được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm; Trong các giai đoạn tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm không có ai có ý kiến khiếu nại gì, do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn C khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo khác và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như được thẩm tra công khai tại phiên tòa; Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận :
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 11/10/2025, tại khu vực đồi cây của ông Nông Văn V thuộc xóm Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn L, Trần Văn C, Nguyễn Văn M, Ngô Văn T đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “ba cây”. Đến khoảng 16 giờ 30 phút các đối tượng trên vẫn tiếp tục đánh bạc thì tổ công Công an xã V phát hiện bắt quả tang với tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 7.380.000 đồng cùng một số vật chứng có liên quan đến vụ án.
Do có hành vi nêu trên cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Văn C cùng các bị cáo khác về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, xử phạt các bị cáo mức án trên là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa khai báo thành khẩn ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp văn bản xác nhận của Sở nội vụ tỉnh T về việc ông Trần Ngọc C1 là bố đẻ của bị cáo có thành tích Huân chương chống mỹ Cứu nước, biên lai thu tiền thể hiện bị cáo nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung, tiền án phí sơ thẩm, hiện nay bị cáo đang nuôi 03 con trong số 05 con đều dưới 15 tuổi nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Với những phân tích đánh giá như trên, sau khi xem xét toàn diện vụ án Hội đồng xét xử xét thấy theo hướng dẫn tại các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận của bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo sau khi phạm tội biết ăn năn hối cải như diễn biến tại phiên tòa.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; ghi nhận bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Chỉnh S bản án hình sự sơ thẩm số 06/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên
1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”.
Giao bị cáo Trần Văn C cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái Nguyên quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.
2.Về án phí: Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận bị cáo đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung, án phí Hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo biên lai thu tiền số 0000149 ngày 05/02/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 4 - Thái Nguyên; - TAND khu vực 4 - Thái Nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - Phòng THADS khu vực 4 - Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Bản |