vanban.org

Bản án 41/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu P.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thu P và anh Vũ Văn H. (Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật) Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của vợ chồng là cháu Vũ Thảo V si… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu P - Vũ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu P.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 06/08/2026
Về việc: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán: - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Chất.

2. Bà Vũ Thảo Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Ninh Trọng Khánh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 08 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2026/QĐST – HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu P, sinh năm 2001; Căn cước số: xxxxxxxxxxxx do Bộ C cấp ngày 11/7/2024. Địa chỉ: Thôn M, xã C, tỉnh Ninh Bình. Nay là thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1997; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021. Địa chỉ: Thôn M, xã C, tỉnh Ninh Bình. Nay là thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên toà vắng mặt chị P, anh H. Chị P có đơn xin xét xử văng mặt, anh H vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

ơ

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ nguyên đơn là chị Trần Thị Thu P trình bày: Chị và anh Vũ Văn H sau thời gian tự do tìm hiểu đã tự nguyện kết hôn với nhau. Đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại UBND xã X, huyện K cũ nay là xã C, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sông và vấn đề làm ăn kinh tế, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Thực tế từ năm 2025 cho đến nay anh chị đã sống ly thân và không quan tâm, không liên lạc với nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn chị P đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung, con riêng: Chị và anh H có 01 con chung là cháu Vũ Thảo V sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019 hiện cháu V đang ở với chị. Nay ly hôn chị đề nghị Toà án giao cháu V cho chị tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị P không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu V. Về con riêng chị và anh H không có, không yêu cầu tòa án giải quyết

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung và nợ riêng: Chị và anh H không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn trong vụ án là anh Vũ Văn H hiện đang cư trú tại Thôn M, xã C, tỉnh Ninh Bình. (Nay là thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình). Tòa án nhân dân khu vực 4 – Ninh Bình đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho anh Vũ Văn H và giao các tài liệu chứng cứ theo đề nghị của nguyên đơn, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ anh H, bà T cam kết sẽ có trách nhiệm giao ngay tận tay cho anh H những văn bản tố tụng của Toà án. Bản thân anh H có biết việc chị P khởi kiện xin ly hôn với anh nhưng anh H không có mặt làm việc tại Tòa án và cũng không có văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời không có quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Con chung của chị P và H là cháu Vũ Thảo V sinh sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019 thuộc trường hợp phải nghe ý kiến, nguyện vọng của con chung khi bố mẹ ly hôn. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 29 tháng 6 năm 2026 nguyện vọng cháu V muốn ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

1. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành và thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144 khoản 4 Điều 147 và §iÒu 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Thu P ly hôn anh Vũ Văn H.

- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung của vợ chồng là cháu Vũ Thảo V sinh sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi. Anh Vũ Văn H không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung.

- Án phí: Trần Thị Thu P nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Trần Thị Thu P có đơn khởi kiện về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Vũ Văn H có nơi cư trú tại: thôn M, xã C, tỉnh Ninh Bình. Nay là thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân khu vực 4 – Ninh Bình thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Trần Thị Thu P và vắng mặt bị đơn anh Vũ Văn H. Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh H vắng mặt lần 2 không có lý do. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu P và anh Vũ Văn H có Đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại UBND xã X, huyện K cũ nay là xã C, tỉnh Ninh Bình. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về làm ăn sinh sống tại thôn M, xã C, tỉnh Ninh Bình. Nay là thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình. Quá trình vợ chồng chung sống đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cuộc sống luôn bất đồng quan điểm, đồng thời mâu thuẫn nhau về vấn đề làm ăn kinh tế. Thực tế thì chị P và anh H đã sống ly thân nhau gần hai năm nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, khi Tòa án tiến hành các thủ tục tiếp cận công khai chứng cứ đồng thời hòa giải để anh chị có biện pháp khắc phục mâu thuẫn và tạo cơ hội cho anh chị về đoàn tụ thì anh H không tham gia hòa giải, điều đó thể hiện thái độ bỏ mặc không thiện trí trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Vụ án thuộc trường hợp Toà án không tiến hành hoà giải được. Như vậy hôn nhân của anh chị chỉ tồn tại trên danh nghĩa và đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C thể hiện: Anh H và chị P có Đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 5 năm 2020 tại UBND xã X, huyện K cũ nay là xã C, tỉnh Ninh Bình, anh chị có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị về làm ăn sinh sống tại thôn M, xã C, tỉnh Ninh Bình. Nay là thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình. Quá trình vợ chồng chung đã phát sinh mâu thuẫn, qua nắm bắt tại chính quyền cơ sở thì được biết anh H, chị P mâu thuẫn là do vấn đề làm ăn kinh tế khó khăn, công việc mỗi người một nơi nên đã không có sự thấu hiểu, thông cảm chia sẻ cùng nhau, Nay chị P ly hôn anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung anh chị có một con chung cháu Vũ Thảo V sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019. Hiện cháu V đang ở cùng với chị P. Do anh chị đều là lao động tự do và ở những khu vực khác nhau nên UBND xã không xác định được mức thu nhập của các bên đương sự.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị chị P và anh H đã đến mức trầm trọng không thể khắc phục được, anh chị đã có thời gian sống ly thân nhau gần hai năm nay và không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Chị P và anh H có một con chung là cháu Vũ Thảo V sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019. Hiện cháu V đang ở cùng chị P. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã yêu cầu các bên đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh mức thu nhập hàng tháng và điều kiện chăm sóc con chung của các bên cho Tòa án để làm căn cứ xác định điều kiện và khả năng chăm sóc giáo dục con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con chung sau khi ly hôn. Cả nguyên đơn và bị đơn không cung cấp được bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh cho mức thu nhập của bản thân, điều kiện nuôi dưỡng con của hai bên đương sự là như nhau. Bị đơn cũng không có có quan điểm về vấn đề giao con và ai nuôi con sau khi ly hôn. Qua tham khảo ý kiến, nguyện vọng của con chung thì cháu V muốn ở với mẹ, thực tế thời gian anh chị sống ly thân thì cháu V do chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay để không làm ảnh hưởng sự phát triển bình thường của con chung khi bố mẹ ly hôn và không làm thay đổi môi trường sống, học tập của con chung nên giao cháu Vũ Thảo V sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019 cho chị P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên và tự lập được cuộc sống. Do chị P không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung, chị P xác định mình đó đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi dưỡng và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu V. Việc chị P không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung là hoàn toàn tự nguyện. Do vậy nay không buộc anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung vẫn đảm bảo quyền lợi cho cháu V và cũng phù hợp với với điều 82, 83 Luật Hôn nhân nhân gia đình đồng thời phù hợp với thực tế điều kiện nuôi dưỡng con của các bên đương sự.

Về con riêng: chị P và anh H không có nên chị P không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P và anh H không có tài sản chung và công nợ nên nay ly hôn chị P không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 144, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trần Thị Thu P phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thu P và anh Vũ Văn H. (Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)

2.Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của vợ chồng là cháu Vũ Thảo V sinh ngày 07 tháng 01 năm 2019 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Anh H không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung và anh H có quyền đi lại thăm nom con chung.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về con riêng: Chị P và anh H không có con riêng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị P, anh H không có tài sản chung và công nợ chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Trần Thị Thu P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 3347 ngày 29 tháng 04 năm 2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4, Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

Cỡ chữ