- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Kiều N- Nguyễn Tấn A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kiều N đối với ông Nguyễn Tấn Â. Bà N được ly hôn với ông Â. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HN-ST. Ngày: 25-02-2026 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Tuyết Thanh
Bà Bùi Thị Thúy Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Vĩnh Long.
Ngày 25 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 330/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/01/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kiều N, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long; Địa chỉ liên hệ: số C, Đ, phường B, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Â, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Bà N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Ông  vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2025, văn bản trình bày ý kiến ngày 16/7/2025, nguyên đơn bà Trần Thị Kiều N trình bày:
Về hôn nhân: Vào ngày 12 tháng 6 năm 2006, bà N và ông  có tiến đến hôn nhân. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà N và ông  sống ly thân từ năm 2023 đến nay.
Nay bà N yêu cầu ly hôn với ông Â, bà N không yêu cầu việc cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Về con chung: có một người con tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 01/5/2006, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: không có
Về nợ chung: không có
Ngày 09/7/2025, bà N có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Phía bị đơn ông Nguyễn Tấn  đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy mời của Toà án và đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng ông  vắng mặt, cũng không có văn bản trình bày ý kiến nên không có phần trình bày của ông Â.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Trần Thị Kiều N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà N.
Ông Nguyễn Tấn  đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Â.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy bà N và ông  tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2006. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà N cho rằng sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà N xác định đã không còn tình cảm với ông  nên xin được ly hôn với ông Â. Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “... Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà N và ông  đã có xảy ra mâu thuẫn, gia đình không còn hạnh phúc, tình nghĩa vợ chồng không còn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông  đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N là phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: có một người con tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 01/5/2006, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: bà N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: bà N trình bày không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011466 ngày 08/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà N đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kiều N đối với ông Nguyễn Tấn Â. Bà N được ly hôn với ông Â. Ghi nhận việc bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
2. Về con chung: có một người con tên Nguyễn Tấn L, sinh ngày 01/5/2006, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: bà N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: bà N trình bày không có.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011466 ngày 08/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà N đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: bà Trần Thị Kiều N và ông Nguyễn Tấn  vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 6 – Vĩnh Long; - THADS Vĩnh Long; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Thị Thúy Bắc Bùi Thị Tuyết Thanh Nguyễn Thị Tuyết Nga | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Nga THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |