vanban.org

Bản án 41/2025/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Đặng Thị Thùy T.

Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Thùy T và anh Trần Nguyễn Mạnh P được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Thùy T - Trần Nguyễn Mạnh P - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Đặng Thị Thùy T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Chúc Ngân

Bà Cao Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường B - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/ 2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thùy T, sinh năm 1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số P, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ liên hệ: Số P, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Nguyễn Mạnh P, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số P, ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 02 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Đặng Thị Thùy T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Thùy T và anh Trần Nguyễn Mạnh P quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau khoảng gần một năm thì hai bên tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/3/2016.

Theo chị T, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng khoảng cuối năm 2023 thì mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu phát sinh và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh P thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên lớn tiếng tranh cãi với nhau làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt mà không thể hàn gắn được, mặc dù mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 4/2024 chị T đã về nhà mẹ đẻ sống, vợ chồng không ai quan tâm đến ai và không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng. Sau đó, chị T đã hai lần nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhưng do muốn vợ chồng có thời gian để suy nghĩ nên chị T đều đã rút đơn khởi kiện.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên chị T nộp lại đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Nguyễn Mạnh P.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Trần Hạo T1, sinh ngày 05/5/2017, hiện cháu T1 đang sống với anh P. Khi ly hôn, chị T đồng ý giao cháu T1 cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con do hiện tại chị T chưa có việc làm.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Thùy T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Biên bản lấy lời khai đề ngày 19 tháng 3 năm 2025, bị đơn - anh Trần Nguyễn Mạnh P trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Trần Nguyễn Mạnh P thừa nhận anh và chị Đặng Thị Thùy T quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau được khoảng gần một năm thì hai bên tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/3/2016.

Theo anh P, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 02/2024, sau khi chị T đi làm tại khu công nghiệp D thì chị T bắt đầu có những thay đổi. Đến khoảng tháng 3/2024, chị T tự ý dọn về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh P đã nhiều lần đến hỏi lý do và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị T không đồng ý. Cũng kể từ tháng 3/2024 cho đến nay, vợ chồng đã không còn liên hệ gì với nhau.

Đối với yêu cầu ly hôn của chị T, anh P đồng ý nhưng do anh P là người theo đạo Thiên chúa nên anh không thể ký các biên bản giải quyết ly hôn của Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Trần Hạo T1, sinh ngày 05/5/2017, hiện cháu T1 đang do anh P chăm sóc. Nếu ly hôn, anh P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Nguyễn Mạnh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do) nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị Thùy T và anh Trần Nguyễn Mạnh P được ly hôn.

+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Trần Hạo T1, sinh ngày 05/5/2017 cho anh P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

+ Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã Q huyện T, tỉnh Đồng Nai (BL 31) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt (nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do). Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thùy T và anh Trần Nguyễn Mạnh P tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/3/2016 (BL 03), căn cứ Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây được xem là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, anh P và chị T đã không còn sống chung với nhau từ khoảng tháng 3/2024 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình. Do quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nhưng anh P và chị T đều không trình báo nên chính quyền địa phương không nắm được nhưng cả hai bên đều thừa nhận, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 174/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2024 và số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất) và kết quả xác minh ngày 12/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai:“… Về mâu thuẫn vợ chồng phía chính quyền địa phương không nắm được do không nhận được trình báo” (BL 31). Xét mâu thuẫn giữa anh P và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh P có một con chung là cháu Trần Hạo T1, sinh ngày 05/5/2017.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo chị T, anh P đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung và hiện anh P đảm bảo điều kiện chăm sóc cho con nên chị T đồng ý giao con chung cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng; yêu cầu của chị T phù hợp với nguyện vọng của con chung và được bị đơn đồng ý. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục giao con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Chị T hiện không có việc làm, còn anh P có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng anh P không yêu cầu nên tạm thời chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có nợ chung và tài sản chung, chị T và anh P đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Đặng Thị Thùy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Đặng Thị Thùy T.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Thùy T và anh Trần Nguyễn Mạnh P được ly hôn.

2. Về con chung:

2.1. Giao cháu Trần Hạo T1, sinh ngày 05/5/2017 cho anh Trần Nguyễn Mạnh P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

2.2. Chị Đặng Thị Thùy T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Tạm thời chị Đặng Thị Thùy T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Trần Nguyễn Mạnh P không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị Thùy T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0008541 ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Đặng Thị Thùy T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ