vanban.org

Bản án 41/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HSST
Ngày 27 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Phụng

2. Ông Hoàng Văn Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh ngày 21/11/1995 tại tỉnh H (trước đây là tỉnh T1); Nơi cư trú: thôn T2, phường T1, tỉnh H (trước đây là xã T3, thành phố T1, tỉnh T1); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh T4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị A; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/6/2025 đến ngày 08/6/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Trích xuất, có mặt.

* Người chứng kiến:

- Anh Đỗ Viết Đ, sinh năm 1979; Trú tại: số nhà 01/205, đường L, tổ 04, phường T5, tỉnh H (trước đây là phường K, thành phố T1, tỉnh T1). (Vắng mặt)

- Anh Dương Ngọc H1, sinh năm 1985; Trú tại: số nhà 04, đường L1, tổ 07, phường T1, tỉnh H (trước đây là phường B, thành phố T1, tỉnh T1). (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/6/2025, Trần Thanh T đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết từ nhà đến khu vực bến xe khách thành phố T1 (nay là Bến xe khách T1) thì xuống xe và gặp một người nam giới khoảng 30 tuổi T không biết tên, địa chỉ, T hỏi và mua được của người này một túi ma túy với giá 500.000 đồng. T giao tiền và nhận lại từ người này một túi nilon trong suốt có in hoa văn bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt, T cất giấu số ma túy trên trong túi quần bên trái phía trước của T đang mặc và đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi ở khu vực đường L2 thuộc tổ 01, xã P, thành phố T1, tỉnh T1 (nay là phường T1, tỉnh H) thì bị tổ công tác Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) tuần tra phát hiện. Trước sự chứng kiến của anh Đỗ Viết Đ và anh Dương Ngọc H1, T tự giác lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có in hoa văn, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt, T khai nhận là ma túy đá của T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã quản lý và niêm phong túi ma túy trên theo quy định, kiểm tra người T, tổ công tác không phát hiện, thu giữ gì thêm. Sau đó tổ công tác đã đưa T và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã P, thành phố T1, tỉnh T1 (nay là Công an phường T1, tỉnh H) tiến hành lập các biên bản theo quy định pháp luật. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến ma túy.

Bản kết luận giám định số 566/KL-KTHS ngày 06/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên), kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2150 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm năm mươi gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ”.

Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSKV5 ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt Trần Thanh T mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2025; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại hoàn trả lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình (nay là Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hưng Yên), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu và kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 02/6/2025, tại khu vực đường L2 thuộc tổ 01, xã P, thành phố T1, tỉnh T1 (nay là phường T1, tỉnh H), Trần Thanh T tàng trữ trái phép 0,2150 gam Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Như vậy, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[3] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Hưng Yên truy tố đối với bị cáo Trần Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.

[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi nhưng không biết tên, địa chỉ tại khu vực bến xe khách thành phố T1 (nay là Bến xe khách T1) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/6/2025.

Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 (Năm triệu) đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1561 gam Methamphetamine của bị cáo Trần Thanh T còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 566/KL-KTHS.

(Vật chứng đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5, tỉnh Hưng Yên quản lý có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2025).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/8/2025. Nơi nhận:

Cỡ chữ