- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chiếm giữ tài sản - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh L2 phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 176 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HSST Ngày: 21/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Nghiệp Hồng;
2. Ông Huỳnh Lý Chung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 2152025 tại Phòng xử Atrụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 342025HS ngày 2032025Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 412025QĐXXST-HS ngày 2142025đối với bị cáo:
Đặng Mạnh L năm 1994Thành phố H đăng ký thường trú: A đường B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 6 đường T, phường T, Quận G, Thành phố H nghiệp: Tài xếtrình độ văn hoá (học vấn): 01/12dân tộc: Kinhgiới tính: Namtôn giáo: Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Nguyễn Ngọc T (chết)bà Đặng Thị Ngọc T1 (chết), có vợ và 02 con (lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2024)tiền án: Không có tiền sự: Không có bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Bị hại: Bà Văn Thị Hoài T2, sinh năm 1995; địa chỉ: 4 đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 52 phút ngày 20/01/2024, bà Đỗ Hải T3 cùng bà Văn Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Hải T4 đặt xe ô tô biển số 51H-302.27 trên ứng dụng Becar do ông Trần Bảo K đứng tên đi từ Trung tâm H (địa chỉ A đường H, quận P) đến Nhà thi đấu P (địa chỉ B L Phường A, Quận A). Đến khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, xe ô tô biển số 51H-302.27 đến Nhà hàng tiệc cưới The Adora L1 để đón và di chuyển đến Nhà thi đấu P. Khi đến nơi lúc 19 giờ 40 phút, bà T2 cùng bà T3 và bà T4 xuống xe đi bộ vào trong Nhà thi đấu P. Đến 19 giờ 52 phút, bà T2 kiểm tra lại túi xách thì không thấy chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu tím của bà T2 đâu nên gọi điện cho ông Trần Bảo K là tài xế đăng ký xe ô tô biển số 51H-302.27 trên tài khoản ứng dụng Becar để xin lại điện thoại, thì K xác nhận không thấy điện thoại của bà T2 trên xe. Sau đó, bà T2 đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Bà T2 cho biết vào lúc 21 giờ 06 phút, sau khi bị mất chiếc điện thoại trên, bà T2 kích hoạt chế độ mất trên điện thoại và để lại lời nhắn bị mất điện thoại, ai nhận được thì trả lại. Đến 23 giờ 43 cùng ngày, bà T2 nhận được thông báo vị trí chiếc điện thoại tại địa chỉ số E hẻm S, T, phường T, Quận G. Bà T2 xác định tài xế chở bà đi trên chiếc xe ô tô biển số 51H-302.27 và hình ảnh người tài xế tên Trần Bảo K đứng tên trên ứng dụng Becar là 02 người khác nhau.
Ông Trần Bảo K cho biết: Vào chiều ngày 20/01/2024, K đang ở nhà thì Đặng Mạnh L2 (là cậu họ của K), mượn xe ô tô biển số 51H-302.27 và tài khoản ứng dụng tài xế Becar của K để chạy dịch vụ, L2 đến nhà của K tại địa chỉ 2 Đ, Phường A, Quận D để lấy xe. Đến 19 giờ 52 phút cùng ngày Trần Bảo K có nhận cuộc gọi từ số điện thoại 0392580354 của bà T2 là khách vừa xuống xe của K có bỏ quên 01 điện thoại Iphone trên xe nhờ K kiểm tra. Do lúc này L2 đang lái xe của K nên K có gọi điện cho L2 yêu cầu L2 kiểm tra lại trên xe có thấy điện thoại của bà T2 hay không để trả lại, thì L2 trả lời không thấy.
Lời khai Đặng Mạnh L2 phù hợp lời khai của Trần Bảo K: Vào tối ngày 20/01/2024, L2 mượn tài khoản tài xe công nghệ B và xe ô tô biển số 51H- 302.27 của Trần Bảo K để chạy xe. Vào lúc 18 giờ 52 phút cùng ngày, L2 có nhận được đơn đặt xe do khách hàng Đỗ Hải T3 cùng bà Văn Thị Hoài T2 và bà Nguyễn Thị Hải T4 đón tại Trung tâm hội nghị tiệc cưới The Adora L1 đi đến Sân vận động P1. Khi đến sân vận động P1 là 19 giờ 38 phút cùng ngày, sau đó L2 tiếp tục nhận được đơn đặt xe mới từ địa chỉ B T, Phường A, Quận A đi sân bay Quốc tế T - ga Q, Phường B, Quận T. Khi đến trước địa chỉ B T, phường A, Quận A thì trong lúc chờ khách lên xe, L2 có quay lại thì thấy có 01 điện thoại Iphone 14 pro màu tím ở vị trí để chân dưới băng ghế sau phía sau ghế phụ nên L2 nhặt cất giữ. Khi đang trên đường đi đến Sân bay T thì Trần Bảo K gọi cho L2 kiểm tra lại có thấy điện thoại khách để quên trên xe không nếu có thì trả lại cho khách, nhưng L2 trả lời là không thấy, sau đó L2 đến sân bay T trả khách lúc 20 giờ 15 phút cùng ngày. Vào lúc 20 giờ 40 ngày 20/01/2024, L2 tự đặt xe bằng tài khoản của L2 đứng tên trên A đi từ số C N, Quận C đến số A N, phường P, Quận A. Đến khoảng 20 giờ 49 phút cùng ngày thì hoàn thành cuốc xe. Sau đó, L2 điều khiển xe về nhà của Trần Bảo K tại địa chỉ số B Đ, Phường A, Quận D trả xe cho K và về nhà tại số F T, phường T, Quận G. Khi về nhà, L2 mở nguồn chiếc điện thoại chiếm giữ của bà T2 kiểm tra thì thấy điện thoại trong trạng thái máy báo mất với nội dung ai nhặt được điện thoại xin trả lại, L2 tắt nguồn điện thoại và cố ý chiếm giữ không trả lại cho bà T2. Khoảng 01 tuần sau L2 đem bán lại chiếc điện thoại trên cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch) trên mạng xã hội với giá 4.000.000 đồng. Số tiền L2 có được từ việc bán điện thoại đã tiêu xài hết.
Bản Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐ ĐGTS ngày 11/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự là điện thoại Iphone 14 Pro màu tím dung lượng 128Gb có số seri: JYYNHR7WWD, số IMEI: 351083733030846, điện thoại trên do chị T2 mua vào khoảng tháng 02/2023 có giá là 15.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKSQ11 ngày 19 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Đặng Mạnh L2 tội danh “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào ngày 20/01/2024, Đặng Mạnh L2 chạy xe dịch vụ trên tài khoản ứng dụng tài xế Becar trên xe ô tô biển số 51H-302.27 chở hành khách là bà Văn Thị Hoài T2 đi từ Trung tâm Hội nghị tiệc cưới The Adora L1 đến Nhà thi đấu P. Khi bà T2 xuống xe thì L2 nhặt được 01 điện thoại Iphone 14 pro màu tím của bà T2 trị giá 15.500.000 đồng làm rơi trên xe. Khi được yêu cầu trả lại, bị cáo không trả và cố ý chiếm lấy. Khoảng 01 tuần sau L2 đem bán cho người thanh niên (chưa rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đặng Mạnh L2 phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của Đặng Mạnh L2 là nguy hiểm cho hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của xã hội cần xử lý nghiêm nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu tím của bị hại bị chiếm đoạt, hiện chưa thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bà T2 đã nhận bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 176; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh L2 phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Mạnh L2 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án 21/5/2025.
Giao bị cáo Đặng Mạnh L2 cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - UBND: P.Tân Thuận Đông Q7 TP . HCM; - Những người tham gia tố tụng; Trần Thị Ánh Loan - Lưu hồ sơ vụ án. |