vanban.org

Bản án 41/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Thanh T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/10/2024. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thanh T phạm tội - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41 /2025/HSST
Ngày 28 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Minh và ông Nguyễn Đức Thiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh - Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/QĐXX - HS ngày 05/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/QĐ-HPT ngày 17/03/2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Thanh T; Sinh ngày: 11/4/2009 (khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 15 tuổi 6 tháng 7 ngày) tại: Phú Thọ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 55A, khu 6, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Trình độ học vấn: 8/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Triệu Thanh, sinh năm 1972; Lao động tự do; Con bà: Đỗ Thị Ngọc Lân, sinh năm 1977; Lao động tự do; Hiện bố, mẹ bị cáo đều trú tại: Tổ 55A, khu 6, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt;

2. Họ và tên: Nguyễn Xuân T; Sinh ngày: 12/11/1999; tại: Phú Thọ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Quang Huy, sinh năm 1971; Lao động tự do; Con bà: Trần Thị Minh Hải, sinh năm 1978; Lao động tự do; Hiện bố, mẹ bị cáo đều trú tại Tổ 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị cáo đi cải tạo tại Trường giáo dưỡng số 2 tại tỉnh Ninh Bình- Bộ công an về tội Trộm cắp tài sản thời hạn 12 tháng. Trường chấp hành xong ngày 01/6/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt;

* Đại diện hợp pháp cho bị cáo Trương Thanh T: Bà Đỗ Thị Ngọc Lân, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ 55A, khu 6, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Có mặt;

* Người bào chữa cho bị cáo Trương Thanh T: Bà Bùi Thị Thanh Nga, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ. Có mặt;

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hà Việt Anh, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ 3, khu 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;

2. Anh Nguyễn Hùng Giang Long, sinh năm 2007; Địa chỉ: Khu 3, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;

3. Anh Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm 2006; Địa chỉ: Khu 8, xã Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.Vắng mặt;

4. Chị Nguyễn Hương Giang, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt;

5. Bà Trần Thị Minh Hải, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 ngày 18/10/2024, tổ công tác của Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý – Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an phường Vân Phú, thành phố Việt Trì đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Lê Đồng thuộc phường Vân Phú, thành phố Việt Trì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện vi phạm pháp luật đang đứng trước cổng khu chung cư xi măng Hữu Nghị thuộc tổ 18, khu 3, phường Vân Phú. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra nam thanh niên tự khai họ tên là Trương Thanh T, sinh năm 2009, HKTT: Tổ 55A, khu 6A, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và khai Tùng đang tàng trữ 16 túi ma túy cỏ Mỹ. Tổ công tác yêu cầu Tùng về trụ sở Công an phường Vân Phú làm việc. Tại trụ sở Công an phường, Tùng tự giác giao nộp 16 túi nilon có đặc điểm là túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong đều chứa sợi thực vật màu nâu là ma tuý cỏ mỹ Tùng đang để trong túi giả da màu xanh đen có in chữ “LV” của Tùng đang đeo trên người và khai nhận đây là 16 túi ma tuý dạng Cỏ Mỹ của Tùng, mục đích để bán. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ, niêm phong 16 túi ma tuý trên. Ngoài ra, còn tạm giữ của Tùng: 01 túi giả da màu xanh đen có in chữ “LV”, mép thì có khóa kéo, có quai đeo màu đen Tùng dùng để cất 16 túi nilon chứa ma túy Cỏ Mỹ, 01 căn cước công dân mang tên Trương Thanh T, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám số IMEI 353894106966954 kèm theo 01 thẻ sim số 0799.694.111, số seri sim 8401231012296120. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, niêm phong thu giữ 16 túi nilon nói trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Trương Thanh T. Kết quả âm tính, Tùng không sử dụng chất ma túy.

Ngày 19/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Thanh T, kết quả không thu giữ được gì.

Căn cứ lời khai của Tùng và các tài liệu chứng cứ thu thập được, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Xuân T, sinh năm 1999; HKTT: tổ 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để làm việc. Tại cơ quan điều tra Trường đã thừa nhận toàn bộ hành vi bán ma tuý cỏ Mỹ cho Tùng phù hợp với lời khai của Tùng. Tạm giữ của Trường: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám số IMEI 356796483760507 kèm 01 sim số 0967.204.099 trong máy.

Ngày 20/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân T, quá trình khám xét thu giữ: 01 túi nilon bên trong có chứa sợi thực vật màu nâu và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với Nguyễn Xuân T. Kết quả âm tính, Trường không sử dụng chất ma túy tại thời điểm xét nghiệm.

Ngày 18/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ ra Quyết định trưng cầu giám định sợi thực vật màu vàng nâu chứa bên trong 16 túi nilon màu trắng có mép dán thu giữ của Trương Thanh T.

Tại bản Kết luận giám định số 1461/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Sợi thực vật màu nâu đựng trong túi nilon màu trắng có mép dán được đánh số 01,trong bì niêm phong gửi đến giám định có khối lượng là 9,772 gam, có chứa chất ma tuý loại MDMB-BUTINACA;

Sợi thực vật màu nâu đựng trong 15 túi nilon màu trắng có mép dán được đánh từ số 2 đến 16, trong bì niêm phong gửi đến giám định có tổng khối lượng là 11,055 gam, đều có chứa chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA”.

MDMB-BUTINACA là chất ma tuý số thứ tự 342, danh mục IIC, Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

MDMB-4en-PINACA là chất ma túy quy định tại Danh mục, STT: 241, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn lại 7,751 gam sợi thực vật màu nâu là mẫu vật còn lại trong túi số 1; trả lại 5,735 gam sợi thực vật màu nâu là tổng mẫu vật còn lại trong túi từ số 2 đến túi số 16 cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Ngày 20/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ ra Quyết định trưng cầu giám định sợi thực vật màu nâu chứa bên trong 01 túi nilon màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T.

Tại bản Kết luận giám định số 1462/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Sợi thực vật màu nâu đựng trong 01 túi nilon màu trắng trong bì niêm phong gửi đến giám định có khối lượng là 65,922 gam, có chứa chất ma tuý MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA”.

MDMB-BUTINACA là chất ma tuý số thứ tự 342, danh mục IIC, Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.

MDMB-4en-PINACA là chất ma túy quy định tại Danh mục, STT: 241, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn lại 63,279 gam sợi thực vật màu nâu cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Ngày 25/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì để giải quyết theo thẩm quyền.

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, Trương Thanh T khai nhận: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng từ đầu tháng 10/2024 cho đến khi bị bắt Tùng đã 03 lần mua ma tuý cỏ Mỹ của Nguyễn Xuân T. Sau khi mua được ma túy cỏ Mỹ, Tùng đã tự chia thành nhiều phần và cho vào các túi nilon có mép dán để bán, cụ thể như sau:

+ Lần 1: Khoảng 19 giờ 30 phút một ngày đầu tháng 10/2024 Tùng không nhớ ngày cụ thể), Tùng nhắn tin, gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Trường (tài khoản Facbook của Tùng có tên là “Truong Thanh Tung”; tài khoản Facebook của Trường là Nguyễn Xuân T) hỏi mua 600.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ. Trường đồng ý, hẹn gặp Tùng ở khu vực chợ gần quảng trường của phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì để trao đổi mua bán ma túy cỏ Mỹ. Khoảng 30 phút sau Tùng một mình đến chỗ hẹn gặp Trường, Tùng đưa cho Trường 600.000 đồng tiền mua ma tuý, Trường cầm tiền rồi đưa lại cho Tùng 02 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong đều có chứa sợi thảo mộc màu nâu là ma tuý cỏ Mỹ. Tùng cầm rồi đi về nhà chia nhỏ số ma túy cỏ Mỹ (nhưng không nhớ cụ thể chia được bao nhiêu túi) mục đích để bán kiếm lời.

+ Lần 2: Khoảng 19 giờ một ngày đầu tháng 10/2024, sau lần 1 khoảng 2 đến 3 ngày (Tùng không nhớ ngày cụ thể), Tùng nhắn tin, gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Trường hỏi mua 900.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ. Trường đồng ý và cũng hẹn gặp Tùng ở khu vực chợ gần quảng trường phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 30 phút sau Tùng một mình đến chỗ hẹn gặp Trường, Tùng đưa cho Trường 900.000 đồng tiền mua ma tuý, Trường cầm tiền rồi đưa lại cho Tùng 03 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là 03 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong cả 03 túi đều có chứa sợi thảo mộc màu nâu là ma tuý cỏ Mỹ. Tùng cầm rồi đi về nhà chia nhỏ số ma túy trên thành nhiều túi rồi cất giấu mục đích để bán kiếm lời.

+ Lần 3: Khoảng 19 giờ ngày 18/10/2024, Tùng nhắn tin, gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Trường hỏi mua 600.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ, Trường đồng ý và vẫn hẹn gặp Tùng ở khu vực chợ gần quảng trường phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì. Do có việc phải đi Vĩnh Phúc nên Trường lấy 02 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là 02 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong cả 02 túi đều có chứa sợi thực vật màu nâu là ma tuý cỏ Mỹ rồi đưa cho em gái của Trường là Nguyễn Hương Giang, sinh ngày 02/12/2006, HKTT: Tổ 10, phố Đoàn Kết, phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Trường bảo với Giang là: “ Em cầm 02 gói thuốc lào này tý nữa anh gọi thì cầm ra đầu ngõ đưa cho bạn anh” và Trường còn bảo Giang “ Bạn anh còn nợ anh 600.000 đồng, nếu nó trả thì em cầm cho anh”. Giang cầm 02 gói trên còn Trường đi Vĩnh Phúc. Khoảng 30 phút sau, Tùng một mình đến chỗ hẹn và gọi cho Trường, Trường bảo lại với Tùng sẽ có em gái của Trường ra đưa ma tuý cho Tùng. Sau đó Trường gọi điện thoại cho Giang và bảo Giang cầm 02 gói Trường đưa lúc trước ra đưa cho Tùng. Theo lời chỉ dẫn của Tùng, Giang đi ra chỗ Tùng đợi, gặp Tùng Giang hỏi Tùng có phải bạn của Trường không, Tùng bảo đúng, Giang đưa cho Tùng 02 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là 02 túi nilon màu trắng có mép dán bên trong cả 2 túi đều có chứa sợi thảo mộc màu nâu là ma tuý cỏ Mỹ. Tùng cầm rồi đưa cho Giang 600.000 đồng và đi về nhà sau, đó Tùng mở 02 túi ma tuý cỏ Mỹ ra cho tất số ma tuý vào 01 túi nilon rồi cất vào trong túi đeo của Tùng, khi đó trong túi đeo của Tùng vẫn còn 15 túi ni lon chứa ma túy cỏ Mỹ Tùng chia từ trước nhưng Tùng chưa bán hết, sau đó Tùng đi lên khu chung cư xi măng Hữu Nghị chơi. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Tùng đang đứng trước cổng chung cư xi măng Hữu Nghị thuộc phường Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an phường Vân Phú kiểm tra phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, ngoài hành vi phạm tội bị cơ quan công an phát hiện ngày 18/10/2024, Trương Thanh T đã tự khai nhận: Sau khi mua được ma tuý cỏ Mỹ, Trương Thanh T đã chia nhỏ ma túy cỏ Mỹ rồi cho vào nhiều túi nilon để bán và đã bán được cho nhiều người và bán nhiều lần cho Nguyễn Hùng Giang Long và Hà Việt Anh để lấy tiền chi tiêu cho cá nhân, nhưng đến nay Tùng chỉ nhớ đã 02 lần bán cho Nguyễn Hùng Giang Long, sinh ngày 08/12/2007; HKTT: tổ 29, khu 3, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và 02 lần bán ma túy cỏ Mỹ cho Hà Việt Anh, sinh năm 1993, HKTT: tổ 3, khu 10, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể như sau:

*02 lần Tùng bán ma túy cỏ Mỹ cho Nguyễn Hùng Giang Long như sau:

+ Lần 1: Khoảng 16 giờ một ngày đầu tháng 10/2024, Trương Thanh T gọi điện thoại cho Nguyễn Hùng Giang Long qua ứng dụng Messenger hỏi Long có mua Tobaco (tức ma tuý cỏ Mỹ) không? Long bảo có và bảo Tùng bán nợ cho Long 01 túi Tobaco giá 200.000 đồng nhưng Long không có tiền và muốn cắm điện thoại cho Tùng khi nào có tiền Long trả Tùng và lấy lại điện thoại. Tùng đồng ý, Long hẹn gặp Tùng mang ma tuý đến đầu ngõ nhà Long sau quán Vịt Thảo Béo giáp đường tàu thuộc khu 3, phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 15 phút sau, Tùng đi đến chỗ hẹn gặp Long, Long đưa cho Tùng 01 chiếc điện thoại Iphone màu tím, Tùng cầm xem và đưa bán cho Long 01 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong chưa ma tuý cỏ Mỹ dạng sợi thảo mộc màu nâu Long cầm đi về nhà sau đó Long sử dụng hết cho bản thân còn Tùng đi về nhà.

+ Lần 2: Khoảng 15 giờ một ngày khoảng giữa tháng 10/2024 sau lần một khoảng 03 ngày, Tùng gọi điện qua ứng dụng Messeger cho Long hỏi Long có mua ma tuý cỏ Mỹ không? Long đồng ý bảo Tùng bán cho Long 01 túi ma tuý với giá 200.000 đồng. Long bảo Tùng cho Long cắm điện thoại để mua nhưng Tùng không đồng ý, sau đó Long bảo Tùng mang ma tuý đến đầu ngõ nhà Long sau quán Vịt Thảo Béo như lần trước. Tùng đồng ý, khoảng 30 phút sau Tùng đi đến chỗ hẹn gặp, Long đưa cho Tùng 200.000 đồng tiền mua ma tuý Tùng cầm tiền rồi đưa cho Long 01 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong chứa ma tuý cỏ Mỹ dạng sợi thảo mộc màu nâu giống như lần trước. Sau đó Tùng đi về nhà còn Long đi đâu Tùng không biết.

*02 lần Tùng bán ma túy cỏ Mỹ cho Hà Việt Anh như sau:

+ Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2024, Hà Việt Anh gọi điện thoại cho Trương Thanh T qua ứng dụng Messeger (tài khoản Facbook của Hà Việt Anh là “Việt Anh Teddy”; tài khoản Facbook của Trương Thanh T là “Truong Thanh Tung”) hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ, Tùng đồng ý. Việt Anh hẹn Tùng mang ma tuý đến khu vực cổng trường Tiều học Đinh Tiên Hoàng thuộc phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để trao đổi. Khoảng 10 phút sau, Tùng đến chỗ hẹn gặp Việt Anh, Việt Anh đưa cho Tùng 200.000 đồng Tùng cầm tiền rồi đưa cho Việt Anh 01 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là túi nilon màu tắng có mép dán, bên trong chứa ma tuý cỏ Mỹ dạng sợi thảo mộc màu nâu. Việt Anh cầm đi luôn còn Tùng đi về nhà.

+ Lần 2: Khoảng 22 giờ ngày 17/10/2024, Hà Việt Anh gọi điện thoại cho Tùng qua ứng dụng Messeger hỏi mua 300.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ. Tùng đồng ý và Việt Anh bảo Tùng mang ma tuý đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, Việt Anh nói với Tùng là Việt Anh bị ngã đang nằm điều trị tại đây, Tùng đồng ý và bảo sẽ cho thêm ma tuý cỏ Mỹ. Khoảng 15 phút sau Tùng và Việt Anh gặp nhau ở trước lối vào căng tin của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Việt Anh đưa cho Tùng 300.000 đồng, Tùng cầm tiền rồi đưa lại cho Việt Anh 01 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong chứa ma tuý cỏ Mỹ dạng sợi thảo mộc màu nâu giống túi ma tuý ở lần trước. Việt Anh cầm rồi Tùng đi về luôn.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T tự khai nhận ngoài hành vi bán ma túy cho Trương Thanh T, Trường còn tự khai nhận đã nhiều lần bán ma tuý cỏ Mỹ cho Nguyễn Tuấn Anh, sinh ngày 15/9/2006; HKTT: Khu 8, xã Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nhưng Trường chỉ nhớ cụ thể 02 lần vào ngày 17/10/2024 và ngày 18/10/2024, cụ thể như sau:

+ Lần 1: Khoảng 19 giờ ngày 17/10/2024, Nguyễn Tuấn Anh nhắn tin cho Trường qua ứng dụng Messeger (tài khoản Facbook của Anh là “Nguyễn Tuấn Anh”; tài khoản Facbook của Trường là “Nguyễn Xuân T”) hỏi mua 300.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ. Trường đồng ý và hẹn Tuấn Anh ra quán nét ở gần chợ Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc để đưa ma tuý cỏ Mỹ. Khoảng 40 phút sau, Tuấn Anh gặp Trường ở chỗ hẹn, Tuấn Anh đưa cho Trường 300.000 đồng Trường cầm tiền rồi đưa lại cho Tuấn Anh 01 túi ma tuý có đặc điểm là túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong có chứa sợi thực vật màu nâu là ma tuý cỏ Mỹ. Tuấn Anh cầm túi ma tuý đi về nhà và sử dụng hết cho bản thân.

+ Lần 2: Khoảng 07 giờ ngày 18/10/2024, Tuấn Anh nhắn tin cho Trường qua ứng dụng Messeger hỏi mua 250.000 đồng tiền ma tuý cỏ Mỹ. Trường đồng ý rồi hẹn Tuấn Anh ra địa điểm quán net gần chợ Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc như lần trước, Khoảng 40 phút sau Tuấn Anh đến gặp Trường ở chỗ hẹn, Tuấn Anh đưa cho Trường 250.000 đồng Trường cầm tiền rồi đưa cho Tuấn Anh 01 túi ma tuý cỏ Mỹ có đặc điểm là túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong có chứa sợi thực vật màu nâu là ma tuý cỏ Mỹ. Tuấn Anh cầm rồi đi về nhà và đã sử dụng hết túi ma tuý cho bản thân.

Về nguồn gốc số ma tuý cỏ Mỹ của Nguyễn Xuân T đã bán cho Trương Thanh T và Nguyễn Tuấn Anh, Trường khai nhận: Do có nhu cầu mua ma túy cỏ Mỹ để sử dụng và bán, Trường đã đặt mua được 01 túi ma tuý cỏ Mỹ của một người không quen biết trên mạng xã hội từ đầu tháng 10/2024, Trường không nhớ cụ thể là trang nào và không biết tên, tuổi địa chỉ của người bán ở đâu với giá 1.000.000 đồng và được chuyển phát về nhà Trường (không rõ người, đơn vị giao hàng cụ thể). Trường kiểm tra thấy có 01 túi ma tuý cỏ Mỹ được đúc trong túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm rồi cất trong phòng ngủ của Trường. Số ma túy này Trường lấy ra sử dụng dần và chia nhỏ thành nhiều túi nilon và bán dần cho nhiều người trong đó Trường có bán ma túy cỏ Mỹ cho Trương Thanh T và Nguyễn Tuấn Anh như đã khai trên.

Nguyên nhân, điều kiện, động cơ mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do Nguyễn Xuân T là người sử dụng trái phép ma túy, không có công ăn việc làm ổn định nên đã bán ma túy để sử dụng và kiếm lời cho bản thân. Trương Thanh T là người không có công ăn việc làm ổn định nên đã mua ma túy về để bán kiếm tiền chi tiêu cá nhân.

Tại Cáo trạng số: 17/CT-VKS-VT ngày 24 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91 Bộ luật hình sự; khoản 6 Điều 12; khoản 3 Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đối với bị cáo Trương Thanh T.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.

Xử phạt: Trương Thanh T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/10/2024.

Xử phạt: Nguyễn Xuân T từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/10/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tùng và Trường.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì niêm phong số: 1461 và 1462 /KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định; 01 (một) sim số 0799.964.111, số seri sim 8401231012296120; 01 túi giả da màu đen có in chữ LV lồng vào nhau, mép có khóa kéo, có quai đeo màu đen thu giữ của Trương Thanh T; 01 sim số điện thoại 0967.204.099 thu giữ của Nguyễn Xuân T.

Trả lại 01 căn cước công dân số 025209012404 mang tên Trương Thanh T và 01 căn cước công dân số 025099005542 mang tên Nguyễn Xuân T.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 900.000đồng (Chín trăm nghìn đồng) của Trương Thanh T do bán ma túy cho Nguyễn Hùng Giang Long, Hà Việt Anh mà có.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.100.000đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) của Nguyễn Xuân T do bán ma túy cho Trương Thanh T mà có và 550.000đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) do bán ma túy cho Nguyễn Tuấn Anh mà có.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám, số Imei 353894106966954 thu giữ của bị cáo Trương Thanh T.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Trương Thanh T khẳng định lời trình bày của bị cáo Tùng là đúng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

Người bào chữa cho bị cáo Trương Thanh T phát biểu quan điểm: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì về tội danh. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Bị cáo Trương Thanh T khi phạm tội là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà kiểm sát viên đã đề nghị để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân, sớm trở về với gia đình và xã hội, trở thành người công dân tốt.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn, rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, các bÞ c¸o Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T ®· khai nhËn toàn bộ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh như néi dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không có gì oan sai. Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định của cơ quan giám định cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 10/2024 đến ngày 18/10/2024 Trương Thanh T đã 03 lần mua ma tuý cỏ Mỹ của Nguyễn Xuân T, với tổng số tiền là 2.100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Tùng đã bán 02 lần ma tuý cỏ Mỹ cho Nguyễn Hùng Giang Long thu được số tiền là 400.000 đồng; Tùng bán 02 lần ma tuý cỏ Mỹ cho Hà Việt Anh thu được số tiền là 500.000 đồng. Số ma tuý mua được Long và Hà Việt Anh đã sử dụng hết cho bản thân nên không xác định được khối lượng ma tuý.

Tiếp đó vào hồi 20 giờ 20 phút ngày 18/10/2024, tại khu vực cổng khu chung cư xi măng Hữu Nghị thuộc tổ 18, khu 3, phường Vân Phú, Trương Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 9,772 gam ma tuý cỏ Mỹ có chứa chất ma tuý loại MDMB-BUTINACA và 11,055 gam ma tuý cỏ Mỹ đều có chứa chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA với mục đích để bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý- Công an tỉnh Phú Thọ phối hợp với Công an phường Vân Phú phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng.

Đối với Nguyễn Xuân T đã bán 03 lần ma tuý cỏ Mỹ cho Trương Thanh T thu được số tiền 2.100.000 đồng. Ngoài ra, Trường còn bán 02 lần ma tuý cỏ Mỹ cho Nguyễn Tuấn Anh thu được số tiền là 550.000 đồng. Sau khi mua được ma túy cỏ Mỹ của Trường, Nguyễn Tuấn Anh đã sử dụng hết cho bản thân nên không xác định được khối lượng ma tuý. Ngoài ra, Nguyễn Xuân T còn có hành vi tàng trữ trái phép 65,922 gam ma tuý cỏ Mỹ có chứa chất ma tuý MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA mục đích để bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý-Công an tỉnh Phú Thọ thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Trường ngày 20/10/2024.

Như vậy, Trương Thanh T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng 9,772 gam ma tuý cỏ Mỹ có chứa chất ma tuý loại MDMB-BUTINACA và 11,055 gam ma tuý cỏ Mỹ có chứa chất ma tuý, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA. Nguyễn Xuân T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng 65,922 gam ma tuý cỏ Mỹ có chứa chất ma tuý MDMB-4en-PINACA và MDMB-BUTINACA thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Trường và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy đã bán cho Trương Thanh T.

Do vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a, ...

b, Phạm tội 02 lần trở lên ....’’

[3]. Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo Tùng khi thực hiện hành vi phạm tội dưới 18 tuổi chưa nhận thức hết về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Trường đủ tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự để biết hành vi của mình là trái pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo Trương Thanh T đã tự thú về hành vi bán trái phép chất túy cho Nguyễn Hùng Giang Long và Hà Việt Anh. Bị cáo Nguyễn Xuân T đã tự thú về hành vi bán trái phép chất túy cho Nguyễn Tuấn Anh nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình chuẩn bị xét xử đại diện hợp pháp của bị cáo Trương Thanh T có nộp cho Tòa án 02 huân huy chương kháng chiến của ông và bà nội bị cáo Tùng là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Tùng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Trương Thanh T có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Xuân T nhân thân xấu, năm 2014 đi cải tạo tại Trường giáo dưỡng số 2 tại tỉnh Ninh Bình - Bộ công an về tội Trộm cắp tài sản thời hạn 12 tháng. Trường chấp hành xong ngày 01/6/2015. Bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.

Sau khi xem xét nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo Tùng khi phạm tội đang trong độ tuổi chưa thành niên, suy nghĩ còn bồng bột, chưa chín chắn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo Trường đã đủ tuổi và nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi môi trường xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do các bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, thì mới có thể cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Tùng thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định tại Luật tư pháp người chưa thành niên xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Tùng dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 6 Điều 12 Luật tư pháp người chưa thành niên thì không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo Trường quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định bị cáo không có việc làm ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình, ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân thiết yếu, không có tài sản gì giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trường.

[5]. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Đối với 7,751 gam sợi thực vật khô màu nâu là mẫu vật còn lại trong túi số 01 và 5,735 gam là sợi thực vật khô màu nâu là tổng mẫu vật còn lại trong túi từ số 02 đến 16 cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong trong bì số 1461/KL - KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 63,279 gam sợi thực vật khô màu nâu cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong trong bì số 1462/KL - KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 túi giả da màu đen có in chữ LV lồng vào nhau, mép có khóa kéo, có quai đeo màu đen thu giữ của Trương Thanh T, là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 sim số 0799.964.111, số seri sim 8401231012296120 thu giữ của Trương Thanh T và 01 sim số 0967.204.099 thu giữ của Nguyễn Xuân T do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 căn cước công dân số 025209012404 mang tên Trương Thanh T và 01 căn cước công dân số 025099005542 mang tên Nguyễn Xuân T là giấy tờ hợp pháp của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám, số Imei 353894106966954 thu giữ của bị cáo Trương Thanh T, là phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 900.000đồng (Chín trăm nghìn đồng) Tùng bán ma túy cho Nguyễn Hùng Giang Long và Hà Việt Anh mà có cần truy thu của bị cáo Tùng để tịch thu vào ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 2.100.000đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) Trường bán ma túy cho Trương Thanh T mà có và số tiền 550.000đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) Trường bán ma túy cho Nguyễn Tuấn Anh mà có cần truy thu của bị cáo Trường để tịch thu vào ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc điện thoại di động Iphone màu xám đã cũ số IMEI 356796483760507 Trường mượn của bà Trần Thị Minh Hải, là mẹ đẻ của bị cáo, đầu tháng 10/2024 lúc đó Trường đi giao hàng thuê không có điện thoại nên Trường hỏi bà Hải cho Trường mượn chiếc điện thoại trên. Việc Trường mượn điện thoại của bà Hải sau đó vi phạm pháp luật bà Hải không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại này cho bà Trần Thị Minh Hải là phù hợp.

- Đối với Nguyễn Hương Giang là em gái ở cùng nhà với Trường là người mà Trường đã nhờ đưa ma tuý cho Trương Thanh T ngày 18/10/2024 nhưng khi Trường nhờ Giang, Trường chỉ bảo Giang cầm 02 gói thuốc lào ra đưa hộ và cầm tiền Tùng trả nợ cho Trường lúc trước. Giang không biết đó là 02 gói ma tuý cỏ Mỹ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Giang, xét thấy là phù hợp.

- Đối với Nguyễn Hùng Giang Long, Hà Việt Anh và Nguyễn Tuấn Anh là những người đã mua ma tuý cỏ Mỹ của Trương Thanh T và Nguyễn Xuân T và đã sử dụng hết cho bản thân nên cơ quan điều tra không xác định được khối lượng ma túy. Ngày 27/11/2024, Công an thành phố Việt Trì đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hùng Giang Long bằng hình thức Phạt tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng); đối với Hà Việt Anh bằng hình thức Phạt tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); đối với Nguyễn Tuấn Anh bằng hình thức Phạt tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Nguyễn Hùng Giang Long, Hà Việt Anh và Nguyễn Tuấn Anh đã nộp phạt xong, là phù hợp.

- Đối với người đã bán ma túy cho Nguyễn Xuân T do Trường không nhớ trang mạng đã trao đổi hỏi mua ma túy cỏ Mỹ là trang nào, không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Trường, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được, không có căn cứ xử lý, xét thấy là phù hợp.

[6]. Møc h×nh ph¹t ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t ®Ò nghÞ ®èi víi các bÞ c¸o t¹i phiªn tßa lµ phï hîp, t ¬ng xøng víi tÝnh chÊt, møc ®é, hµnh vi ph¹m téi mµ các bÞ c¸o ®· g©y ra. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Tùng là phù hợp quy định pháp luật.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91 Bộ luật Hình sự; khoản 6 Điều 12; khoản 3 Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đối với bị cáo Trương Thanh T.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.

Căn cứ: Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Trương Thanh T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/10/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/10/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tùng và Trường.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 7,751 gam sợi thực vật khô màu nâu là mẫu vật còn lại trong túi số 01 và 5,735 gam là sợi thực vật khô màu nâu là tổng mẫu vật còn lại trong túi từ số 02 đến 16 cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong trong bì số 1461/KL - KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ.

- Tịch thu tiêu hủy 63,279 gam sợi thực vật khô màu nâu cùng toàn bộ bao gói gửi giám định được niêm phong trong bì số 1462/KL - KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ.

- Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0799.964.111, số seri sim 8401231012296120 thu giữ của Trương Thanh T và 01 sim số 0967.204.099 thu giữ của Nguyễn Xuân T.

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi giả da màu đen có in chữ LV lồng vào nhau, mép có khóa kéo, có quai đeo màu đen của bị cáo Trương Thanh T.

- Trả lại 01 căn cước công dân số 025209012404 mang tên Trương Thanh T cho bị cáo Trương Thanh T.

- Trả lại 01 căn cước công dân số 025099005542 mang tên Nguyễn Xuân T cho bị cáo Nguyễn Xuân T.

- Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE vỏ màu xám, số Imei 353894106966954 của bị cáo Trương Thanh T.

- Truy thu vào ngân sách nhà nước của bị cáo Trương Thanh T số tiền 900.000đồng (Chín trăm nghìn đồng).

- Truy thu vào ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Xuân T tổng số tiền 2.650.000đồng ( Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng là đồ vật được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Việt Trì bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/02/2025.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Trương Thanh T, Nguyễn Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND phường nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ