- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Tuấn phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46; điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HSST Ngày: 17/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Ông Nguyễn Quyết Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị N - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 01/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 03/4/2025 đối với:
* Bị cáo: Lò Văn T; Sinh năm 2005 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quê quán: Bản Xôm, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nơi tạm trú: P, D, Ký túc xá Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lò Văn C, sinh năm 1975 và bà Lò Thị T1, sinh năm 1979; Gia đình có 03 anh chị em, T là thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 19/12/2024 thì chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1966. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
2. Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2024 tại khu vực gần chợ N1 thuộc thôn L, xã N, huyện V; Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp cùng Công an xã Nghĩa Trụ tiến hành kiểm tra đối với Lò Văn T sinh năm 2005; Quê quán: Bản Xôm, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; tạm trú tại: P, D, Ký túc xá Đ, thuộc xã N, huyện V, vì nghi có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ: Tại túi quần dài phía sau bên trái mà T đang mặc 01 túi nilon màu xanh, có khóa bóp, kích thước (11,5x7,4)cm, một mặt có chữ “Đệ nhất thuốc lào XUÂN HIỂU..” bên trong là 04 gói giấy bạc, chứa chất màu trắng dạng cục và bột (nghi là ma tuý), tất cả được niêm phong vào phong bì ghi ký hiệu M. T khai nhận: Toàn bộ chất màu trắng dạng cục và bột bị thu giữ nói trên là ma túy (loại Heroine) do T mua về để sử dụng. Nên lực lượng Công an đã đưa T về trụ sở Công an xã N để lập biên bản bắt.
Cùng ngày 16/12/2024 Công an xã N đã đưa T đi xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Kết quả xét nghiệm xác định: T dương tính với chất ma túy (MOP). Cũng trong ngày 16/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định trưng cầu giám định về ma túy đối với vật chứng đã thu giữ của T trong niêm phong ghi ký hiệu M, khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại Phòng 6, D, Ký túc xá Đ, xã N, huyện V. Kết quả khám xét: không phát hiện thu giữ đồ vật gì có liên quan. Tại bản kết luận giám định số 739/KL-KTHS(MT) ngày 19/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H xác định: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M, có tổng khối lượng là 0,219g là ma túy, loại Heroine (H).
Quá trình điều tra T khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/12/2024 T đi bộ ra khu vực chợ xã N1 thuộc thôn L, xã N, huyện V để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) đang đứng ở chỗ tối, nghi người này có ma túy bán, nên T tiến lại hỏi người này: “có bán ma túy không để em 400.000 đồng”, người đàn ông này trả lời: “có”, T đưa cho người này 400.000 đồng thì người này đưa lại cho T 01 túi nilon màu xanh, một mặt có chữ “Đệ nhất thuốc lào XUÂN HIỂU..” bên trong có chứa 04 gói giấy bạc đựng chất màu trắng dạng cục và bột (là ma tuý loại Heroin). Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào túi quần dài phía sau bên trái đang mặc, rồi đi bộ về ký túc xá Đ, xã N, huyện V để tìm nơi sử dụng. Khi T đi bộ được khoảng 50m thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ như nêu ở trên. Ngoài ra T còn khai nhận: Vào ngày 15/12/2024 T đã sử dụng trái phép chất ma tuý (loại Heroine) nhưng không nhớ địa điểm sử dụng.
Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma tuý cho T, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý. Còn hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 15/12/2024 của T, do không xác định được địa điểm cụ thể, nên không xác định được thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính đối với T về hành vi này.
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSVG ngày 31/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đã truy tố bị cáo Lò Văn Tuấn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng:
- Điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 16/12/2024.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định ghi số 739/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,202g ma túy loại Heroin; 01 túi nilon màu xanh, các mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo nhất trí, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng quy định pháp luật.
- Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
. Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2024 tại khu vực gần chợ N1 thuộc địa phận thôn L, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp cùng với Công an xã N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,219gam ma túy loại Heroin. Mục đích T cất giấu số ma túy nói trên là để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật theo bản Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng. Do đó cần xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm về ma tuý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do không xác minh được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma tuý.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tránh xa ma túy và để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định ghi số 739/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,202g ma túy loại Heroin; 01 túi nilon màu xanh, các mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46; điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
3. Xử phạt: bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/12/2024.
4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định ghi số 739/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,202g ma túy loại Heroin; 01 túi nilon màu xanh, các mảnh giấy bạc màu trắng gói ma túy, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Tình trạng số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang)
5. Về án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; - VKS huyện Văn Giang; - Công an tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THADS huyện Văn Giang; - UBND xã Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Lâm |