vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Đồng phạm T “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Phạm Sỹ Đ 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/08/2025 là ngày bắt tạm giữ bị cáo. Tạm giam bị cáo Phạm Sỹ Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Sỹ Đ phạm tội tổ chức sử dụng TPCMT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Đồng phạm T “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS - ST
Ngày 16/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền

Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hằng và ông Nguyễn Đình Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Chiều – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16/12/2025, tại Trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST - HS ngày 26/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST - HS ngày 02/12/2025 đối với bị cáo:

Phạm Sỹ Đ, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Sỹ N (đã chết) và bà Trần Thị X, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1988 và có 02 con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án: Tại bản án số 12/2020/HS-ST ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt Phạm Sỹ Đ 36 tháng tù và phạt bổ sung 5.000.000đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 08/10/2022, chấp hành xong hình phạt tù; Đ chưa chấp hành xong án phí và tiền phạt (Chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bản án số 18/2012/HSST ngày 22/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt Phạm Sỹ Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/9/2012, chấp hành xong hình phạt tù; ngày 27/9/2012, chấp hành xong án phí (Đã được xóa án tích)

+ Bản án số 05/HSST ngày 04/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt Phạm Sỹ Đ 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Ngày 05/8/2015, chấp hành xong hình phạt tù; ngày 29/5/2015 chấp hành xong án phí (Đã được xóa án tích).

+ Quyết định 399 ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Sỹ Đ trong thời hạn 21 tháng. Ngày 13/02/2019 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/08/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh B. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, Nguyễn Hữu D đi đến khu vực cây đa thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh thì gặp Phạm Sỹ Đ. Sau đó Đ mời D về nhà Đồng chơi. D nhận lời và đi đến nhà Đ. Khi D ngồi tại gian phòng khách của nhà Đ, thì Đ lấy 01 gói ma túy được bọc ngoài bằng giấy màu xanh đen ra bàn uống nước để mời D cùng sử dụng. D đồng ý. Sau đó Đ tiếp tục lấy 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 bật lửa màu đỏ có sẵn ở nhà để làm công cụ sử dụng ma túy. Đồng lấy 01 phần ma túy sang 01 mảnh giấy bạc màu trắng rồi dùng bật lửa đốt phía dưới tờ giấy bạc, khi có khói ma túy bay lên, Đ dùng miệng hút trực tiếp khói ma túy đó vào cơ thể. Sau đó Đ đưa gói ma túy, bật lửa, giấy bạc của mình cho D để D cùng sử dụng ma túy. D đổ ma túy vào mảnh giấy bạc rồi sử dụng chiếc bật lửa Đ đưa cho để sử dụng ma túy giống như cách Đ đã sử dụng. Trong khi Đ và D đang sử dụng ma túy tại gian phòng khách nhà Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang, do sợ nên D đã hất gói ma túy mà D và Đ đang sử dụng xuống làm chất bột màu trắng bị rơi ra mặt bàn. Lực lượng công an thu giữ trên mặt bàn tại phòng khách của gia đình Phạm Sỹ Đ gồm: Chất bột màu trắng được cho vào 01 túi nilon màu trắng dán kín; 01 mảnh giấy bạc màu trắng đã bị đốt cháy có bám dính chất màu đen; 01 mảnh giấy một mặt màu xanh đen, một mặt màu trắng có bám dính chất bột màu trắng; 02 ống nhựa màu hồng được cho vào 01 phong bì thư niêm phong theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc bật lửa màu đỏ; 01 xe mô tô BKS 99H1 – 405.45 đã qua sử dụng. Sau đó tổ công tác đã đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã Đ để điều tra làm rõ

Sau khi đưa các đối tượng về đến trụ sở Công an xã Đ, cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra nước tiểu của các đối tượng xác định: Trong nước tiểu của Phạm Sỹ Đ và Nguyễn Hữu D đều dương tính với ma túy MOP (tức H). Đồng thời Tổ công tác tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Phạm Sỹ Đ trong 01 chai sạch có nắp được niêm phong và ký hiệu M1; mẫu nước tiểu của Nguyễn Hữu D được thu giữ trong 01 chai sạch có nắp được niêm phong và ký hiệu M2.

Ngày 11/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số C552/QĐ-CSMT, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định chất ma túy và mẫu nước tiểu của thu giữ của Phạm Sỹ Đ và Nguyễn Hữu D.

Ngày 13/8/2025, Phòng K1 - Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 1810/KL-KTHS kết luận:

+ Chất bột màu trắng bám dính bên trong 01 túi nilon màu trắng gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H) không xác định được khối lượng.

+ Chất bột màu đen bám dính trên một mảnh giấy bạc màu trắng đã bị đốt cháy gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H) không xác định được khối lượng.

+ Chất bột màu trắng bám dính trên một mảnh giấy, một mặt màu xanh đen, một mặt màu trắng gửi giám định là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H) không xác định đượ khối lượng.

+ Mẫu nước tiểu của Phạm Sỹ Đ, sinh năm 1989, HKTT: Thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, gửi giám định có tìm thấy 6-MAM (6-Monoacetymorphine) là sản phẩm chuyển hóa của H (Heroine).

+ Mẫu nước tiểu của Nguyễn Hữu D, sinh năm 1987, HKTT: Thôn H, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh, gửi giám định có tìm thấy 6-MAM (6-Monoacetymorphine) là sản phẩm chuyển hóa của H (Heroine).

Heroin (Heroine) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 10/8/2025 của D: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 230/QĐ-XPHC ngày 20/10/2025 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh B đã xử phạt Nguyễn Hữu D 1.500.000đ. Ngày 17/11/2025, Nguyễn Hữu D đã chấp hành xong.

Về nguồn gốc số ma túy Đ và D sử dụng, Đ khai đó là gói ma túy của Đ do Đ nhặt được ở khu vực gốc cây đa thuộc địa phận thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSKV9 ngày 25/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh truy tố bị cáo: Phạm Sỹ Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã quy kết, bị cáo có được tham gia chứng kiến việc niêm phong và mở niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật, không có ý kiến gì thắc mắc về kết luận giám định của cơ quan chuyên môn khi tiến hành giám định ma tuý và mẫu nước tiểu thu giữ của bị cáo và D. Đồng ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố; Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Đồng phạm T tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đ từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng và 01 (một) phong bì thư được dán kín niêm phong, bên trong phong bì chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát đã nêu; không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

Về tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy họ đã có lời trình bày đầy đủ trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, HĐXX vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, Đ đã rủ Nguyễn Hữu D về nhà của Đ ở thôn C, xã Đ để sử dụng ma túy. Bị cáo là người cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm, cung cấp công cụ, phương tiện để D sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, đó là chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác. Ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình trật tự an toàn xã hội hiện nay. Bị cáo nhận thức được những tác hại đó, biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên cần vận dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Năm 2012 Đồng bị Toà án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2015, Đ bị Toà án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2017 bị Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh (cũ) quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng. Mặc dù các lần xét xử và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên Đồng đã chấp hành xong, không bị coi là có tiền án, tiền sự nhưng cũng cần đánh giá Đ là người có nhân thân xấu, có ý thức coi thường pháp luật, khả năng khó giáo dục, cải tạo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hữu D. Quá trình điều tra xác định hành vi của D không cấu thành tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 256a Bộ luật hình sự, Công an tỉnh B đã xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền 1.500.000đ đối với D là phù hợp.

Đối với chị Nguyễn Thị N1 – vợ Đ. Quá trình điều tra xác định: Chị N1 không biết việc Đ và D sử dụng ma túy tại nhà ở của gia đình mình. Do đó Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý đối với chị N1 là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô BKS 99H1 – 405.45. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn T1. Lực lượng công an tiến hành trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

Đối với 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội và 01 (một) phong bì thư được dán kín niêm phong, bên trong phong bì chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Phạm Sỹ Đ là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Đồng phạm T “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Về hình phạt: Xử phạt Phạm Sỹ Đ 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/08/2025 là ngày bắt tạm giữ bị cáo.

Tạm giam bị cáo Phạm Sỹ Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Sỹ Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ và 01 (một) phong bì thư được niêm phong kín theo quy định, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định theo bản kết luận số 1810/KLGĐ – PC 09 ngày 13/8/2025 của Phòng K1- Công an tỉnh B.

(Vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 - tỉnh Bắc Ninh.)

Cỡ chữ