vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lường Văn U 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Uốn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST
Ngày 18 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Chúc và bà Trần Thị Loan.

- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6

- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La – Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu:

- Đại diện Viện kiểm sát: Ông Lường Đức Thắng – Chuyên viên.

- Thư ký Tòa án: Bà Vũ Thị Hồng Nhung.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu: Ông Hà Tuấn Anh và ông Bàn Minh Hiếu.

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La – Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Lường Văn U, sinh ngày: 25/7/1996 tại M, Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường Đ, thị xã M, tỉnh Sơn La (Nay là tổ dân phố N, phường M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn V (Đã chết) và bà Lường Thị Đ, sinh năm 1974; chưa có vợ, con.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 07/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 07/8/2024 (chưa được xóa tiền sự);

Nhân thân: Bản án số 50/2020/HSST ngày 30/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 21 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phí ngày 14/01/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022 (đã được xóa án tích).

Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 21/7/2019 (Đã được xóa tiền sự);

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ ngày 19/06/2025, Lường Văn U đi bộ từ nhà đến tổ dân phố Co Sung, phường Mộc Sơn để tìm mua ma tuý mang về sử dụng. Khi đi bộ trên đường dân sinh khu vực tổ dân phố Co Sung, U đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết 01 gói nilon màu trắng đựng ma tuý, loại Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, U cầm gói ma tuý vừa mua được rồi đi bộ về nhà. Trên đường đi đến đoạn đường vắng người qua lại, U đã sử dụng một ít, sau đó nhặt một ống nhựa hình trụ tròn màu xanh bên lề đường, đổ ma túy vào trong để đựng rồi cầm vào lòng bàn tay phải và đi bộ về nhà. Trên đường đi về đến tổ dân phố Na Áng, phường Mộc Sơn thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Ngày 19/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Lường Văn U có khối lượng 0,25 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu U.

Tại Kết luận giám định số 693/KL-KTHS ngày 22/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu U gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,25 gam, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine.

Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 05/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Lường Văn U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Lường Văn U trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn U từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong ban đầu; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lường Văn U.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn U khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an phường Mộc Sơn thu giữ vào ngày 19/6/2025 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 200.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường Mộc Sơn lập vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 19/6/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lường Văn U là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 19/6/2025 bị cáo Lường Văn U đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,25 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên tại thời điểm xét xử, Tòa án không áp dụng các quy định không có lợi cho bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm) nhẹ hơn so với quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại khoản 1 quy định bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm), vì vậy cần xét xử đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, có 01 tiền án về tội phạm ma túy, 01 tiền sự (Đều đã được xóa án tích) và 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính do nghiện chất ma túy, mới chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính trở về địa phương ngày 07/8/2024, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.

Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma tuý, không có công việc ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc phong bì niêm phong ban đầu; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lường Văn Uốn, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lường Văn U, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lường Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lường Văn U 38 (Ba mươi tám) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 19/6/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong ban đầu; 01 lọ nhựa màu xanh; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Lường Văn Uốn (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 36/BBVC-THA ngày 09/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/9/2025).

Cỡ chữ