vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng M Dùng phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Giao bị cáo Sùng Mí D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sung M Dung - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng M Dùng phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/ HS-ST
Ngày 25 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm và bà Lục Thị Tuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với:

1. Bị cáo Sùng Mí D; tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 03/02/1986 tại L, Y, Hà Giang (nay là xã Đ, tỉnh Tuyên Quang).

Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Hà Giang, nay là Thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Sùng Chùng L (sinh năm 1948) và bà Vàng Thị B (sinh năm 1957); Vợ: Vàng Thị L1, sinh năm 1981; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt. 2. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nông Văn D1, trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

3. Bị hại:

- Bà Vàng Thị L1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang; Có mặt.

- Ông Nông Văn Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại Đ: Bà Nông Thị D2, sinh năm 1975 (vợ ); chị Nông Thị H, sinh năm 1998 (con gái); anh Nông Văn C, sinh năm 2000 (con trai).

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại Nông Văn Đ: Chị Nông Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng theo giấy ủy quyền lập ngày 10/6/2025. Có mặt. 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nông Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

5. Người làm chứng:

- Anh Phan Văn T, sinh năm 1999; địa chỉ: xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng;

- Ông Sùng Mí D3, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang;

(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).

6. Người phiên dịch:

Ông Hoàng Văn L2, sinh năm 1993 – Bí thư chi bộ xóm T, xã T, tỉnh Cao Bằng, Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 25/4/2025, tại Km 230 + 100 Quốc lộ D thuộc xóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng) xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô nhân hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 23M1213.55 do Sùng Mí D, sinh năm 1986, trú tại: thôn P, xã L, huyện Y, tỉnh Hà Giang (nay là thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang) điều khiển chở theo vợ là Vàng Thị L1, sinh năm 1981, cùng trú tại thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang đi theo hướng xã Q - xã T va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 11B1 - 197.36 do Nông Văn Đ, sinh năm 1976, trú tại xóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng) điều khiển hướng ngược chiều. Hậu quả: 02 xe mô tô bị hư hỏng: Nông Văn Đ, Sùng Mí D, Vàng Thị L1 bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn theo đúng trình tự, thủ tục quy định.

*Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường xảy ra tai nạn tại Km 230 + 100 Quốc lộ D thuộc xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng;

Hiện trường đã bị xáo trộn do quá trình cấp cứu nạn nhân:

Tiến hành khám nghiệm theo hướng từ xã Q - xã T. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, có ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên (đường rẽ vào xóm V, xã T đường bằng bê tông, lòng đường rộng 8,4 mét), phía trước và sau đoạn đường xảy ra tai nạn có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên; hai bên đường có các cột đèn chiếu sáng). Mặt đường trải áp phan, mặt đường ướt, bằng phẳng. T1 đường có vạch kẻ đường sơn màu vàng đứt đoạn, lòng đường rộng 6,55 mét, lề trái bằng đất rộng 1,2 mét tiếp giáp là rãnh mương thoát nước; lề phải bằng đất rộng 1,15 mét tiếp giáp là rãnh mương thoát nước.

Các vị trí số 1,2,3,6,7 là các dấu vết mài trượt xước, dấu vết nghi máu trên mặt đường đều nằm trên phần đường bên phải theo hướng đi của xe mô tô 23M1-213.55;

Vị trí số 4: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 11B1-197.36, màu trắng, xe đổ nghiêng bên phải trên mặt đường, trục sau bên trái cách mép chuẩn 1,93 mét;

Vị trí số 05: 01 xe mô tô nhân hiệu Honda RSX, biến kiểm soát 23M1-213.55, màu đen, xe được dựng chân chống phụ trên lề đường bên phải, đầu xe hướng ra lòng đường, đuôi xe hướng rãnh mương thoát nước.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

1. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển kiểm soát 11B1 - 197.36, xe mô tô có số khung: RLHJF5812GY050682; số máy: JF66E0050718;

Xe chỉ còn gương chiếu hậu bên trái (loại thời trang), gương bên phải bị mất, phần chân gương, đầu tay phanh phải có vết trượt xước màu trắng. Ốp nhựa đèn tín hiệu trước bên phải nứt vỡ (25 x 7 cm); cánh yếm phải mất, chắn bùn trước bên phải nứt vỡ, bám màu đen; Ốp bảo vệ gầm bung chốt lẫy, hở 5cm.

Vành và lốp trước bên phải có vết trượt (14 x 5 cm); Vành trước bên trái nứt lõm (2 x 3 cm). Tay nắm sau bên phải có vết xước, bàn để chân sau bên phải, ốp bảo vệ ống xả bị xước.

2. Xe mô tô nhân hiệu Honda RSX màu đen, biển kiểm soát 23M1 - 213.55, xe mô tô có số khung: RLHJA3832TY211035; số máy: JA52E-0573623.

Gương phải lệch khỏi vị trí; gương trái bám bùn, ốp đèn chiếu sáng nứt vỡ (6 x 35 cm), cụm đèn bung rời, mặt nạ trước nứt xước bám màu trắng (20 x 18 cm); đèn tín hiệu trái vỡ, mất cụm đèn; đèn tín hiệu phải, cánh yếm phải nứt vỡ, cánh yếm trái nứt vỡ, bung bật, trượt xước bám bùn (31 x 29 cm); chắn bùn trước nút xước; bánh trước và vành cong vênh; trục nan hoa nứt vỡ, xăm rách, xẹp hơi, trục trước phải bám bùn; Bàn để chân trước phải cong vênh, bám bùn, yếm sườn trái xước (38 x 11 cm); yên xe bám nhiều bùn đất; cốp xe không có tài sản.

Ngày 26/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập biên bản tạm giữ dữ liệu điện tử là 01 đoạn Video có thời lượng 02 phút, từ 21: 52: 30 đến 21: 54: 30 ngày 25/4/2025 của Trần Minh T2, sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố B, xã T, tỉnh Cao Bằng ghi lại hình ảnh tại đoạn đường xảy ra tai nạn. Ngày 08/5/2025, Cơ quan điều tra ban hành Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh C giám định kỹ thuật số - dữ liệu điện tử. Tại bản kết luận giám định số 245/KL - KTHS ngày 30/5/2025 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trên Video gửi giám định. Tốc độ xe mô tô biển kiểm soát 23M1 - 213.55 trên đoạn Video gửi giám định (thời lượng Video từ 00:00:17:00 đến 00:00:18:416) khoảng từ 66,88 đến 68,14 Km/h.

Ngày 06/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C có công văn trao đổi với Phòng Quản lý kết cấu hạ tầng giao thông - Sở Xây dựng tỉnh C. Tại công văn số 1979 ngày 18/6/2025 của Sở Xây dựng tỉnh C kết luận: đoạn đường K + 100 Quốc lộ D thuộc địa phận xóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng là đoạn đường ngoài khu đông dân cư, là đường 02 chiều chạy được phân chia bởi các vạch sơn theo Quy chuẩn Quốc gia về biển báo đường bộ QCVN 41: 2024/BGTVT. Tốc độ khai thác tối đa cho phép của xe mô tô chạy trên đoạn đường này theo quy định tại khoản 2, điều 6 của Thông tư số 38/2024/TT - BGTVT tốc độ tối đa cho phép 60 km/h đối với xe mô tô.

Ngày 09/5/2025 và ngày 19/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ban hành Quyết định trưng cầu giám định thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe đối với Nông Văn Đ, Sùng Mí D, Vàng Thị L1:

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 059/25/KLTTCT-TTPY ngày 30/5/2025 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh C kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nông Văn Đ tại thời điểm giám định là 99%.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 047/25/KLTTCT-TTPY ngày 23/5/2025 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh C kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Sùng Mí Dùng tại thời điểm giám định là 03%.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 048/25/KLTTCT - TTPY ngày 23/5/2025 của Trung tâm P, Sở Y tế tỉnh C kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vàng Thị L1 tại thời điểm giám định là 25%.

Sau khi có yêu cầu định giá tài sản, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T có kết luận định giá tài sản số 12/KL - HĐĐGTS ngày 15/5/2025 kết luận: xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 197.36 giá trị thiệt hại của tái sản là 2.843.333 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 23M1 - 213.55 giá trị thiệt hại của tài sản là 3,606,666 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Sùng Mí D khai nhận: khoảng 19 giờ ngày 25/4/2025, D đang ở phòng trọ tại xã T thì có người cùng thuê phòng trọ rủ D đến xã T để bốc vác hàng hóa. D đồng ý và chở theo vợ là Vàng Thị L1 bằng xe mô tô biển kiểm soát 23M1-213.55 đi theo nhóm có khoảng 14 đến 15 người, điều khiển 07 đến 08 xe mô tô đi theo nhau thành đoàn. Dùng không biết tên và địa chỉ những người này. Khi đến xóm L, xã Q thì cùng nhau đứng chờ. Đến khoảng 21h30 cùng ngày, do không có hàng để bốc những người này nói quay về phòng trọ. Khi đến đoạn đường K +100, Quốc lộ D thuộc địa phận xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng, D quan sát thấy chỉ dẫn phía trước có biển báo nhưng không biết nội dung của biển báo là phía trước có ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên. Lúc này có 01 xe mô tô đi ngược chiều bật đèn chiếu xa làm D bị chói mắt, nhưng D vẫn điều khiển xe đi nhanh với mục đích để đuổi kịp những người trong nhóm đang đi phía trước cùng chiều. Khi D điều khiển xe mô tô vượt qua xe mô tô có đèn chói mắt thì nhìn thấy xe mô tô do ông Nông Văn Đ, sinh năm 1976, trú tại xóm B, xã T đi ngược chiều đi sang phần đường của D, không bật đèn tín hiệu để xin đường. Dùng nghĩ người này sẽ phanh xe dừng lại nên tiếp tục điều khiển xe đi thẳng với tốc độ nhanh. Thấy ông Đ điều khiển xe đi sang phần đường của D. Do khoảng cách quá gần, D phanh xe nhưng đầu xe mô tô của D vẫn đâm mạnh vào thân và đầu bên phải xe mô tô của ông Đ. Hậu quả: Nông Văn Đ, Sùng Mí D và Vàng Thị L1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh C.

Lời khai của Sùng M Dùng phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản thu giữ dữ liệu điện tử, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Trong quá trình điều tra, ngày 08/7/2025, đại diện gia đình Sùng M Dùng là ông Sùng Mí D3, Sùng Mí M1 và đại diện gia đình ông Nông Văn Đ là bà Nông Thị D2, Nông Thị H có biên bản thỏa thuận bồi thường với số tiền 80.000.000 đồng. Gia đình ông Nông Văn Đ xác nhận đã nhận đủ số tiền. Gia đình ông Nông Văn Đ và bà Vàng Thị L1 (vợ bị can D) đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave RSX màu đen, biển kiểm soát 23M1-213.55; 01 giấy phép lái xe số 020216000803, mang tên Sùng Mí D; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 23000090 của xe mô tô biển kiểm soát 23M1-213.55 mang tên Sùng Mí D; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe mô tô - xe gắn máy số AA26/0671023 của xe mô tô biển kiểm soát 23M1-213.55 mang tên Sùng Mí D; 01 xe mô tô nhân hiệu HONDA Vision màu trắng, biển kiểm kiểm soát 11B1-197.36; 01 giấy phép lái xe số 040074223358, mang tên Nông Văn Đ; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 012496 của xe mô tô biển kiểm soát 11B1-197.36 mang tên Nông Thị H.

Vật chứng của vụ án và các giấy tờ liên quan được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng ban hành quyết định chuyển vật chứng từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cao Bằng để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTK ngày 28 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Sùng M Dùng ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng để xét xử về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Sùng Mí D thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng đã phản ánh đúng diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, việc truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai quy định của pháp luật. Bị cáo đã tác động gia đình và đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 23M1 – 213.55 bị cáo điều khiển gây tai nạn là xe của bị cáo có giấy tờ đầy đủ, bị cáo nhất trí với kết quả định giá tài sản đối với giá trị thiệt hại của chiếc xe. Bị cáo không yêu cầu phía bị hại bồi thường gì đối với chiếc xe, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe và các giấy tờ kèm theo cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại chị Nông Thị H trình bày: Nội dung sự việc như bản cáo trạng đã nêu, sự việc xảy ra là không mong muốn và cũng có một phần lỗi của bị hại, quá trình điều tra gia đình bị cáo và gia đình chị đã thỏa thuận được với nhau về phần bồi thường dân sự với số tiền 80.000.000 đồng, gia đình đã nhận đủ số tiền này và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.

Bị hại Vàng Thị L1 trình bày: Nội dung sự việc giống như bản cáo trạng đã nêu, bản thân là vợ của bị cáo cũng bị thương tích trong vụ tai nạn này, quá trình điều trị thì gia đình cũng đã chi trả các chi phí thuốc men đầy đủ, sức khỏe đã phục hồi, nay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Thị H có mặt tại phiên tòa trình bày: Chị là con gái của bị hại Nông Văn Đ, là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô BKS 11B1 - 197.36 xảy ra tai nạn ngày 25/4/2025 do ông Nông Văn Đ điều khiển xe hư hỏng và bị thiệt hại số tiền 2.843.333 đồng. Nay chị không yêu cầu phía bị cáo bồi thường gì thêm và yêu cầu Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho chị.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng M Dùng mức hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy các mảnh nhựa màu trắng, đen nứt vỡ tại hiện trường.

- Trả cho bị cáo Sùng M Dùng 01 (một) xe mô tô nhân hiệu Honda Wave RSX màu đen, biển kiểm soát 23M1-213.55, xe mô tô có số khung: "RLHJA3832PY211035", số máy: "JA52F 0573623", đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, phiếu trả lời xác minh xe và bản cà số khung số máy). Tình trạng: Xe mô tô bị hư hỏng, đã mô tả chi tiết trong biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 26/4/2025 của Cơ quan Công an tỉnh C: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số: 020216000803, mang tên Sùng Mí D; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 23000090, mang tên Sùng Mí D, biển số đăng ký 23M1-213.55, cấp ngày 27/9/2013; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số: AA2/0671023, tên chủ xe Sùng Mí Dùng, biển kiểm soát 23M1-213.55, có thời hạn đến ngày 01/11/2025.

- Trả cho chị Nông Thị H 01 (một) xe mô tô nhân hiệu Honda Vision màu trắng biển kiểm soát 11B1-197.36, xe mô tô có số khung: "RLHJF5812GY050682", số máy: "JF66E0050718", xe đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, phiếu trả lời xác minh xe và bản cả số khung số máy). Tình trạng: Xe mô tô bị hư hỏng, đã mô tả chi tiết trong biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 26/4/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh C: 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 012496, mang tên Nông Thị H, biển số đăng ký 11B1-197.36, cấp ngày 08/11/2016;

- Trả cho ông Nông Văn Đ 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số: 040074223358, mang tên Nông Văn Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bên không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị của xe mô tô mà bị cáo điều khiển và xe mô tô ông Nông Văn Đ điều khiển khi xảy ra tai nạn. Do đó, không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa bị cáo đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Thay mặt bị cáo chia sẻ với gia đình bị hại về những thiệt hại do bị cáo đã gây ra cho bị hại. Người bào chữa nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết như: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế

- xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo trình độ học vấn 4/12 nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và gia đình bị hại. Ngoài ra, khi xảy ra tai nạn bị hại cũng có lỗi và bị hại, gia đình bị hại cũng có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Về mức hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức khởi điểm theo đề nghị của đại viện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng (dưới 24 tháng) cho bị cáo được hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm bồi thường dân sự nhất trí theo đề nghị của Kiểm sát viên và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Kiểm sát viên, người bào chữa không có ý kiến tranh luận, đối đáp.

Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, các yếu tố cấu thành tội phạm:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 25/4/2025, tại Km 230 + 100 Quốc lộ D, thuộc địa phận xóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm C, xã T, tỉnh Cao Bằng) Sùng Mí D, sinh năm 1986 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23M1 - 213.55 chở theo vợ là Vàng Thị L1, sinh năm 1981, cùng trú tại thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang hướng từ xã Q đi xã T. Khi đến ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên vào xóm V, xã T, D không giảm tốc độ, đi với tốc độ khoảng 66,88 đến 68,14 km/h, không làm chủ được tay lái nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 197.36 do ông Nông Văn Đ, sinh năm 1976, trú tại xóm B, xã T, tỉnh Cao Bằng điều khiển. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường ngoài khu dân cư, tốc độ khai thác tối đa là 60km/h.

Hậu quả: Nông Văn Đ bị tổn thương cơ thể 99%, Vàng Thị L1 25% và Sùng Mí Dùng 03%; xe mô tô biển kiểm soát 23M1-213.55 bị thiệt hại 3.606.666 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 1181 - 197.36 bị thiệt hại 2.843.333 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, hậu quả làm thiệt hại đến sức khỏe của người khác gây lo lắng cho những người tham gia giao thông. Hành vi của bị cáo Sùng Mí D đã vi phạm khoản 2 Điều 12 và điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải bảo đảm tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mặt đỡ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn" "Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây: Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường vòng, đường Q, đường đèo dốc”. Vi phạm khoản 2 Điều 6 thông tư số 38/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024 của Bộ G về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ: “Tốc độ tối đa cho phép: 60km/h đối với xe buýt, ô tô đầu kéo sơmirơ moóc; xe mô tô, xe chuyên dùng..". Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả gây ra tai nạn, gây thương tích cho bị hại Nông Văn Đ với mức tổn thương cơ thể 99% và bị hại Vàng Thị L1 (vợ bị cáo) với mức tổn thương cơ thể 25%. Bị cáo đã gây thương tích và tổn hại cho sức khỏe của hai người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của hai người là 124%. Như vậy, hành vi của bị cáo Sùng Mí D đã đủ yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với tình tiết định khung quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

“1.…..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%”;

Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại Vàng Thị L1 và đại diện hợp pháp của bị hại Nông Văn Đ cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo phạm tội trong trường hợp bị hại Nông Văn Đ cũng có một phần lỗi. Do vậy, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt chính:

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Sùng Mí D chưa từng có tiền án, tiền sự nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ là điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) nên có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật, đồng thời có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo được sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nhận thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên không nhất thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Hơn nữa, bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 03/7/2025 đến nay cũng đã đủ sức, răn đe, giáo dục bị cáo.

Do đó, đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng dưới mức đề nghị 24 tháng tù cho bị cáo được hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận xong phần bồi thường dân sự với số tiền 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa người đại diện gia đình bị cáo và đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại Nông Văn Đ xác nhận bị cáo đã bồi thường xong và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; bị hại Vàng Thị L1 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với thiệt hại của 02 chiếc xe mô tô do bị cáo Sùng Mí D và bị hại Nông Văn Đ điều khiển khi xảy ra vụ tai nạn. Hội đồng định giá tài sản kết luận định giá tài sản số 12/KL - HĐĐGTS ngày 15/5/2025 kết luận: xe mô tô biển kiểm soát 11B1 - 197.36 giá trị thiệt hại của tái sản là 2.843.333 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 23M1 - 213.55 giá trị thiệt hại của tài sản là 3,606,666 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo không có công việc ổn định, không có nghề nghiệp liên quan đến vận tải.v.v nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

01 xe mô tô nhân hiệu Honda Wave RSX màu đen, biển kiểm soát 23M1-213.55, xe mô tô có số khung: “RLHJA3832PY211035”, số máy: “JA52F 0573623”, đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, phiếu trả lời xác minh xe và bản cà số khung số máy). Tình trạng: Xe mô tô bị hư hỏng, đã mô tả chi tiết trong biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 26/4/2025 của Cơ quan Công an tỉnh C; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 020216000803, mang tên Sùng Mí D; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 23000090 mang tên Sùng Mí Dùng, biển số đăng ký 23M1-213.55, cấp ngày 27/9/2013; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số: AA2/0671023, tên chủ xe Sùng Mí Dùng, biển kiểm soát 23M1-213.55, có thời hạn đến ngày 01/11/2025. Đây là vật chứng, các tài sản thu giữ đối với bị cáo Sùng Mí D, xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý nên cần trả lại các tài sản này cho bị cáo.

01 xe mô tô nhân hiệu Honda Vision màu trắng biển kiểm soát 11B1-197.36, xe mô tô có số khung: “RLHJF5812GY050682”, số máy: “JF66E0050718”, xe đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, phiếu trả lời xác minh xe và bản cả số khung số máy). Tình trạng: Xe mô tô bị hư hỏng, đã mô tả chi tiết trong biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 26/4/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh C: 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 012496, mang tên Nông Thị H, biển số đăng ký 11B1-197.36, cấp ngày 08/11/2016. Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nông Thị H là con của bị hại Nông Văn Đ do đó cần trả lại cho chị H theo quy định của pháp luật.

01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 040074223358, mang tên Nông Văn Đ cần trả lại cho ông Đ là chủ sở hữu.

Đối với các mảnh nhựa màu trắng, đen nứt vỡ tại hiện trường là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Ông Nông Văn Đ là bị hại trong vụ án do thiếu chú ý quan sát khi chuyển hướng, chuyển hướng sang đường không bật đèn tín hiệu, tham gia giao thông có nồng độ cồn trong máu và dương tính với ma túy nên có lỗi trong vụ án. Khi giám định thương tích xác định được thương tích và thiệt hại của vợ chồng Sùng Mí D và Vàng Thị L1 chưa đủ để hành vi của ông Đ cấu thành Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đề nghị xử lý hình sự trong vụ án này là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho bị cáo;

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Sùng M Dùng phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng M Dùng 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/9/2025.

Giao bị cáo Sùng Mí D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Áp dụng Điều 125, Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bỏ biện pháp tạm giam và trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu không bị tạm giam về tội phạm khác.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nông Thị H không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với 02 chiếc xe mô tô mà bị cáo và bị hại điều khiển khi xảy ra tai nạn nên không xem xét.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy các mảnh nhựa màu trắng, đen nứt vỡ tại hiện trường.

- Trả cho bị cáo Sùng M Dùng 01 (một) xe mô tô nhân hiệu Honda Wave RSX màu đen, biển kiểm soát 23M1-213.55, xe mô tô có số khung: "RLHJA3832PY211035", số máy: "JA52F 0573623", đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, phiếu trả lời xác minh xe và bản cà số khung số máy). Tình trạng: Xe mô tô bị hư hỏng, đã mô tả chi tiết trong biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 26/4/2025 của Cơ quan Công an tỉnh C: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 020216000803, mang tên Sùng Mí D; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 23000090, mang tên Sùng Mí D, biển số đăng ký 23M1-213.55, cấp ngày 27/9/2013; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số: AA2/0671023, tên chủ xe Sùng Mí Dùng, biển kiểm soát 23M1-213.55, có thời hạn đến ngày 01/11/2025.

- Trả cho chị Nông Thị H 01 xe mô tô nhân hiệu Honda Vision màu trắng biển kiểm soát 11B1-197.36, xe mô tô có số khung: "RLHJF5812GY050682", số máy: "JF66E0050718", xe đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, phiếu trả lời xác minh xe và bản cả số khung số máy). Tình trạng: Xe mô tô bị hư hỏng, đã mô tả chi tiết trong biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 26/4/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh C: 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 012496, mang tên Nông Thị H, biển số đăng ký 11B1-197.36, cấp ngày 08/11/2016;

- Trả cho ông Nông Văn Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 040074223358, mang tên Nông Văn Đ.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Cao Bằng tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2025.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Sùng Mí D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo, bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ