- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày 13 – 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Việt
2. Ông Cầm Văn Tổ
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Duyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
THÀO A S. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 16/8/1973 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thào A U (đã chết) và bà Sồng Thị P (đã chết); Bị cáo có vợ là Sồng Thị D, sinh năm 1973; Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1999 và con nhỏ nhất sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Bá Linh – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/8/2024, Thào A S đi bộ từ nhà đến bản Nong Mòn, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Tại bản Nong Mòn, S gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đứng ở cạnh đường; S hỏi mua 6.000.000VNĐ ma túy với người đàn ông và đưa tiền. Người đàn ông nhận tiền và bảo S đứng đợi rồi đi vào trong bản, khoảng 30 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho S 02 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên Hồng phiến (S không kiểm tra số lượng). S mang hai túi Hồng phiến về nhà và lấy một phần Hồng phiến (S không đếm số lượng) trong 01 túi nilon cho vào lọ thủy tinh màu nâu đen có nắp bằng kim loại màu vàng để cạnh gối trên giường ngủ, số Hồng phiến còn lại S cất dưới đệm giường ngủ mục đích để sử dụng dần. Từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024, mỗi ngày S sử dụng 02 lần, mỗi lần từ 04 đến 06 viên Hồng phiến. Ngày 29/8/2024, khi tổ công tác Công an xã Chiềng Lương đến kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với S; tổ công tác yêu cầu S cất giấu ma túy thì tự giác giao nộp, S đã tự giác giao nộp số ma túy cất giấu. Tổ công tác công an xã Chiềng Lương, huyện Mai Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A S, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Ngày 29/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Thào A S. Kết quả:
- Tổng khối lượng 45 viên nén màu hồng trong lọ thủy tinh màu nâu đen là 4,64gam, lấy 0,51gam làm mẫu giám định, ký hiệu M1.
- Tổng khối lượng 85 viên nén màu hồng trong túi nilon màu xanh có díp khóa là 8,99gam, lấy 0,51gam làm mẫu giám định, ký hiệu M2.
- Tổng khối lượng 199 viên nén màu hồng trong túi nilon màu xanh có díp khóa là 20,55gam, lấy 0,52gam làm mẫu giám định, ký hiệu M3.
Tại bản kết luận giám định số 1669/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“Mẫu ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định đều là ma tuý; Loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1= 0,51gam; M2 = 0,51gam; M3 = 0,52gam.
Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 34,18gam; Loại Methamphetamine. ”
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSMS ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Thào A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo Thào A S từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 4,13gam Methamphetamine ký hiệu T1; 8,48gam Methamphetamine ký hiệu T2; 20,03gam Methamphetamine ký hiệu T3; 01 lọ thủy tinh tối màu có nắp vặn xoáy màu vàng; 02 gói nilon màu xanh gói ma túy ban đầu; 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Thào A S tự bào chữa: Nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ cơ hội cải tạo bản thân.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A S: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và hành vi phạm tội của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Bị cáo Thào A S nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến sửa đổi, bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thào A S khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy, ngày 20/8/2024 bị cáo đã mua 02 gói Methamphetamine với giá 6.000.000VNĐ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo bị tổ công tác Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 07 giờ 40 phút ngày 29/8/2024 của Công an xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn; kết luận giám định số 1669/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, kết luận tổng khối lượng ma túy thu giữ của Thào A S là 34,18gam loại Methamphetamine. Từ các chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Thào A S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
...
b) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
..."
Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình mua trái phép chất ma túy với số lượng lớn nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng tình trạng mua bán, sử dụng trái phép các chất ma túy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm; Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức còn hạn chế nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên tòa xác định bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định; gia đình bị cáo là hộ nghèo, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 4,13gam Methamphetamine ký hiệu T1; 8,48gam Methamphetamine ký hiệu T2; 20,03gam Methamphetamine ký hiệu T3 được niêm phong theo quy định: Xét thấy đây là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 lọ thủy tinh tối màu có nắp vặn xoáy màu vàng; 02 gói nilon màu xanh gói ma túy ban đầu; 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định: Xét thấy đây là vật dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu hủy.
Về vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Thào A S khai mua của một người đàn ông không quen biết tại bản Nong Mòn, xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; việc mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Thào A S là người
thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Thào A S 10 (mười) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/8/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 4,13gam Methamphetamine ký hiệu T1; 8,48gam Methamphetamine ký hiệu T2; 20,03gam Methamphetamine ký hiệu T3; 01 lọ thủy tinh tối màu có nắp vặn xoáy màu vàng; 02 gói nilon màu xanh gói ma túy ban đầu; 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong theo quy định.
(Chi tiết vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2024 giữa Công an huyện Mai Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A S.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/01/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mai Sơn; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phƣơng Thúy |