vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 12/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/12/2024). 2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST
Ngày 12 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thụ

Ông Nguyễn Hữu Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên;

Ngày 12 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh năm 1983 tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ I, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Â; có vợ là Nguyễn Thị S và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không có

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tống Văn T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt

* Người chứng kiến: Ông Vũ Văn P, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 25/12/2024, tại khu vực sân bóng thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Thành L đang thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Tống Văn T. Vật chứng thu giữ gồm: T1 tại lòng bàn tay trái của T 02 đoạn ống hút nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT1”; thu giữ tại túi quần bên trái của L đang mặc số tiền 200.000 đồng, được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT2”.

Cùng ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành L tại phòng trọ thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả thu giữ tại giường ngủ của L: 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ có chữ “Đệ nhất thuốc lào Anh Dương S1”, bên trong đựng 01 gói giấy màu trắng cuộn dây chun, bên trong gói giấy đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 ví da màu đen bên trong có 01 gói giấy màu trắng đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 dao tem; tất cả được niêm phong vào 01 phong bì thư ký hiệu “KX1” (không niêm phong ví da và dao tem); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “KX2”.

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng nghi là chất ma tuý. Tại bản Kết luận giám định số 2854/KL-KTHS ngày 30/12/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu đều là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,015 gam.

- Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KX1” được niêm phong gửi giám định:

+ Trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài có chữ “Đệ nhất thuốc lào Anh Dương S1”: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng, cuộn dây chun nịt màu vàng bên ngoài là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,769 gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng bên ngoài có chữ là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,081 gam.

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,005 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Thành L khai: Tối ngày 21/12/2024, L đi đến khu vực N, thị trấn Đ, huyện L tìm mua ma túy, mục đích để sử dụng, nếu có người hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Tại đây, L gặp một người đàn ông không quen biết làm nghề chạy xe ôm, L đã mua 01 gói ma túy loại Heroine đựng trong túi ni lon màu đen của người đó với giá 1.200.000 đồng, L đem ma túy về phòng trọ lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại L dùng dao tem chia ra làm 03 phần rồi dùng giấy gói lại làm 03 gói, L để 01 gói vào trong chiếc ví da, 01 gói để vào túi ni lon màu trắng có chữ “Đệ nhất thuốc lào Anh Dương S1”, 01 gói để bên ngoài. Khoảng 14 giờ ngày 25/12/2024, L nhận được cuộc gọi điện thoại của Tống Văn T hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine, L đồng ý và hẹn T đến sân bóng thuộc tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L để giao dịch. Sau đó L dùng dao tem chia một phần ma túy ở gói giấy để bên ngoài cho vào 02 đoạn ống nhựa màu cam rồi hàn kín hai đầu lại, L đem ma túy ra điểm hẹn để bán ma túy cho T, khi hai bên vừa thực hiện xong hành vi giao nhận tiền và ma túy cho nhau thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma tuý đối với Nguyễn Thành L và Tống Văn T, kết quả tét nhanh mẫu nước tiểu xác định: L dương tính với ma túy Heroine, T âm tính. Ngày 06/3/2025, Công an tỉnh B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối Nguyễn Thành L về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tống Văn T mua ma túy của Nguyễn Thành L với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy thu giữ của T dưới 0,1 gam loại Heroine. Hành vi của T chưa cấu thành tội phạm, ngày 06/3/2025 Công an tỉnh B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 03 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Thành L khai báo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, bị cáo xác định hành vi của bị cáo bị khởi tố, truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không bị oan sai.

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn phạt bổ sung.

+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 02 phong bì thư được niêm phong ký hiệu “QT1” và “KX1”, bên trong đều đựng chất ma túy còn lại sau giám định; 01 ví da màu đen; 01 dao tem để tiêu hủy. Tịch thu của Nguyễn Thành L số tiền 200.000 đồng do bán trái phép chất ma túy mà có, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh do đã sử dụng vào việc mua bán ma túy để sung vào công quỹ Nhà nước.

+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo Nguyễn Thành L trình bày: Bị cáo nhất trí với lời luận tội và quan điểm của Kiểm sát viên, bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì. Nói lời sau cùng bị cáo nhận thức hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

Căn cứ lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo Nguyễn Thành L, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/12/2024, bị cáo Nguyễn Thành L đã thực hiện hành vi bán trái phép 02 đoạn ống nhựa đựng ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,015 gam với giá 200.000 đồng cho đối tượng nghiện là Tống Văn T. Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo thu giữ được 03 gói ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,855 gam; số lượng ma túy này bị cáo khai tàng trữ để sử dụng, nếu có người hỏi mua sẽ bán. Tổng khối lượng chất ma túy bị cáo đã bán và tàng trữ với mục đích để sử dụng và bán là 0,87 gam, loại Heroine.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thành L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thành L đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội danh trên theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập và dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân mình và người khác. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.

Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thành L đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Âu L1 người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có

Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Hình phạt giành cho bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Mặc dù mục đích phạm tội của bị cáo là thu lợi bất chính nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật để gói, đựng ma túy, được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT1” và “KX1” cần phải tịch thu để tiêu hủy.

Số tiền 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thành L là do bán trái phép chất ma túy mà có, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh Nguyễn Thành L đã sử dụng để liên lạc bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải tịch thu số tiền và chiếc điện thoại nêu trên của L để sung vào công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/12/2024).

2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định, các đồ vật liên quan để gói, đựng ma túy, tất cả được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT1” và “KX1”; 01 chiếc ví da màu đen; 01 dao tem để tiêu hủy.

- Tịch thu của Nguyễn Thành L số tiền 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) do bán trái phép chất ma túy mà có, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vi vo màu xanh để sung vào công quỹ Nhà nước.

Những vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt./.

Cỡ chữ