- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn ông Diệp Văn S và bị đơn bà Huỳnh Thị H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Diệp Văn S đối với bà Huỳnh Thị H, cho ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H ly hôn.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-12-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Liêu Tài Ngoánh
2. Ông Huỳnh Tài Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 85/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Diệp Văn S, sinh ngày 01/01/1960. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 20/8/2021. Địa chỉ: Ấp K, xã V, tỉnh Cà Mau. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh ngày 01/01/1961. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 02/7/2021. Địa chỉ: Ấp K, xã V, tỉnh Cà Mau. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2025, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 07/11/2025, nguyên đơn ông Diệp Văn S trình bày: Vào năm 1981, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương. Tuy nhiên, từ khi chung sống cho đến nay, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H không có tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Quá trình chung sống, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H có tất cả 04 người con chung là Diệp Thị H1, 44 tuổi, Diệp Thanh H2, 41 tuổi, Diệp Thanh H3, sinh ngày 01/01/1984 và Diệp Thị D, 37 tuổi. Tất cả đều trưởng thành khỏe mạnh và có gia đình riêng.
Về tài sản chung: Ông Diệp Văn S xác định ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H chung sống có tạo tập được 20 công tầm cấy đất trồng lúa và 01 căn nhà cấp 4, diện tích bao nhiêu thì ông Diệp Văn S không còn nhớ, lọp tol, vách thiếc và một số vật dụng sinh hoạt trong gia đình.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống, ông Diệp Văn S xác định ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H không vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có nợ chung.
Trong thời gian chung sống, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, bà Huỳnh Thị H luôn vô cớ kiếm chuyện với ông Diệp Văn S dẫn đến giữa ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay. Ông Diệp Văn S đang sống ở tại địa chỉ: Ấp K, xã V, tỉnh Cà Mau cho đến nay; còn bà Huỳnh Thị H cùng với Diệp Thanh H3 đang sống tại địa chỉ: Ấp K, xã V, tỉnh Cà Mau cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H có gặp gỡ trực tiếp với nhau và cũng có liên lạc với nhau bằng điện thoại để giải quyết mâu thuẫn và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.
Nay ông Diệp Văn S yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị H; không yêu cầu được đoàn tụ. Khi ly hôn, do Diệp Thanh H3, sinh ngày 01/01/1984, Diệp Thị H1, 44 tuổi, Diệp Thanh H2, 41 tuổi và Diệp Thị D, 37 tuổi đều đã trưởng thành khỏe mạnh, có gia đình riêng nên ông Diệp Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, ông Diệp Văn S xác định ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H đã thống nhất tự thỏa thuận xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, ông Diệp Văn S xác định ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H chung sống không có nợ chung nên ông Diệp Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 18/11/2025, bị đơn bà Huỳnh Thị H trình bày: Bà Huỳnh Thị H và ông Diệp Văn S chung sống với nhau được hơn 45 năm nay, không có đăng ký kết hôn. Khoảng 10 năm gần đây, ông Diệp Văn S không lo làm ăn, phát sinh tình cảm với nhiều người phụ nữ khác dẫn đến giữa bà Huỳnh Thị H và ông Diệp Văn S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên bà Huỳnh Thị H và ông Diệp Văn S đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau khoảng 10 năm nay. Nay bà Huỳnh Thị H không đồng ý ly hôn theo yêu cầu ông Diệp Văn S. Bà Huỳnh Thị H yêu cầu được đoàn tụ với ông Diệp Văn D1 do bà Huỳnh Thị H nghĩ cho con cái và mong về già còn có người chăm sóc cho ông Diệp Văn S, chứ bà Huỳnh Thị H cũng không còn tình cảm với ông Diệp Văn S và cũng không có biện pháp hàn gắn gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân với ông Diệp Văn S. Trong trường hợp Tòa án có căn cứ cho bà Huỳnh Thị H và ông Diệp Văn S ly hôn thì con chung là Diệp Thanh H3, sinh ngày 01/01/1984, Diệp Thị H1, 44 tuổi, Diệp Thanh H2, 41 tuổi và Diệp Thị D, 37 tuổi đều đã trưởng thành khỏe mạnh và có gia đình riêng nên bà Huỳnh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, bà Huỳnh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Cà Mau phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Diệp Văn S đối với bà Huỳnh Thị H, cho ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H ly hôn. Về con chung: Diệp Thị H1 44 tuổi, Diệp Thanh H2 41 tuổi, Diệp Thanh H3, sinh ngày 01/01/1984 và Diệp Thị D 37 tuổi đều đã trưởng thành khỏe mạnh, có gia đình riêng và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Do ông Diệp Văn S là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Ông Diệp Văn S yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Thị H và hiện nay bà Huỳnh Thị H cư trú tại ấp K, xã V, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân khu vực 7-Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Nguyên đơn ông Diệp Văn S và bị đơn bà Huỳnh Thị H đều có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương vào năm 1981. Từ khi chung sống cho đến nay, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H không có tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Xét thấy, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1981 (Trước ngày 03/01/1987) nhưng không có đăng ký kết hôn. Căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết số 35/2000/QH1009/6/2000 của Quốc hội thì nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân trước ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế. Như vậy, hôn nhân giữa ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H là hôn nhân thực tế, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Ông Diệp Văn S yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị H với lý do trong thời gian chung sống, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung, bà Huỳnh Thị H luôn vô cớ kiếm chuyện với ông Diệp Văn S dẫn đến giữa ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay. Tuy nhiên, bà Huỳnh Thị H không đồng ý ly hôn với ông Diệp Văn S, mặc dù bà Huỳnh Thị H với ông Diệp Văn S1 không còn tình cảm với nhau, do bà Huỳnh Thị H nghĩ vẫn còn cái nghĩa và còn con cái, bà Huỳnh Thị H muốn hàn gắn, đoàn tụ với ông Diệp Văn S để về già vợ chồng chăm sóc lẫn nhau, nhưng ông Diệp Văn S vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Thị H. Mặc khác, ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, bà Huỳnh Thị H chưa có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân với ông Diệp Văn S. Xét thấy, hôn nhân giữa ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H thực tế đã phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết, cuộc sống chung giữa ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H thực tế đã không còn và không thể duy trì. Điều này cho thấy, tình cảm vợ chồng giữa ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H đã không còn có sự quan tâm, chăm sóc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Diệp Văn S đối với bà Huỳnh Thị H, cho ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H ly hôn.
Về con chung: Ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H chung sống có tất cả 04 người con chung là Diệp Thị H1, 44 tuổi, Diệp Thanh H2, 41 tuổi, Diệp Thanh H3, sinh ngày 01/01/1984 và Diệp Thị D, 37 tuổi. Ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H đều thống nhất 04 người con chung nêu trên đều đã trưởng thành khỏe mạnh, có gia đình riêng và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H chung sống không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Do ông Diệp Văn S là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên ông Diệp Văn S được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Cà Mau tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm d khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 ủ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Diệp Văn S đối với bà Huỳnh Thị H, cho ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H ly hôn.
2. Về con chung: Do Diệp Thị H1, 44 tuổi, Diệp Thanh H2, 41 tuổi, Diệp Thanh H3, sinh ngày 01/01/1984 và Diệp Thị D, 37 tuổi đều đã trưởng thành khỏe mạnh, có gia đình riêng và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Diệp Văn S và bà Huỳnh Thị H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Ông Diệp Văn S là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên ông Diệp Văn S được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 7-Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 7-Cà Mau; - UBND xã Vĩnh Mỹ, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Dương Hồng Chi |