- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đ xin ly hôn anh M"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Nguyễn Khắc M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/9/2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
2. Ông Nguyễn Văn Trò
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hà D Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 về việc tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2025/QĐST- HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khu D, xã H, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc M, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu D, xã H, tỉnh Phú Thọ.
(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh M vắng mặt lần 2 không có lí do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 15/7/2025, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án nguyên đơn chị D trình bày:
Chị và anh M tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 10/3/1998 tại UBND xã C, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã H, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn, vợ chồng ra ở riêng tại khu D, xã H, tỉnh Phú Thọ và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được khoảng 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không hòa hợp, cuộc sông hôn nhân không có hạnh phúc, gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2003 cho đến nay, không ai quan tâm ai. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh M để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Chị D và anh M có 01 con chung là Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/1999. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị D trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Phía bị đơn anh Nguyễn Khắc M: Toà án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, báo anh M đến làm việc nhiều lần nhưng anh M đều vắng mặt, do vậy hồ sơ không thể hiện quan điểm của anh M.
3. Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/8/2025 của bà Lê Thị P (Mẹ đẻ của anh Nguyễn Khắc M) trình bày:
Chị D và anh M tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 10/3/1998 tại UBND xã C, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (Nay là xã H, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn, vợ chồng ra ở riêng tại khu D, xã H, tỉnh Phú Thọ và lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng không hòa hợp. Đến năm 2003 chị D về nhà bố mẹ đẻ sinh sống.Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, mỗi người một nơi, không ai quan tâm ai. Hiện nay anh M đi làm xa, thi thoảng mới về nhà. Anh M đã biết chị D xin ly hôn anh M. Còn việc anh M có về Tòa án để giải quyết hay không bà không được biết. Nay chị D xin ly hôn thì anh M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Chị D và anh M có 01 con chung là Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/1999. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Chị D và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị D, anh M. Địa phương xã H đã xác nhận: Trong cuộc sống hôn nhân giữa chị D, anh M có mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2003, mỗi người một nơi.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Áp dụng khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Nguyễn Khắc M.
[2] Về con chung: Chị D và anh M có 01 con chung là Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/1999. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Trần Thị D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng dân sự:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Nguyễn Khắc M có nơi cư trú tại xã H, tỉnh Phú Thọ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
. Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Chị D có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt. Bị đơn anh M đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh M vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Khắc M kết hôn ngày 10/3/1998, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ). Hôn nhân giữa chị D và anh M được xác lập trên cơ sở tự nguyện do đó là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của chị D, bà P là mẹ đẻ anh M và việc xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh M tại UBND xã H thì xác định được hôn nhân của chị D và anh M không hoà thuận hạnh phúc, đã xảy ra mâu thuẫn từ năm năm 2003 và hiện vợ chồng đang sống ly thân từ năm 2003, không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh M đến Toà án làm việc, để anh M trình bày quan điểm ý kiến cũng như hòa giải quan hệ hôn nhân nhưng anh M đều vắng mặt, mặc dù anh M đã biết Tòa án đang giải quyết việc ly hôn giữa chị D với anh nhưng anh M không đến Tòa án để làm việc. Điều đó, thể hiện anh M không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy cần xử cho chị D được ly hôn anh M là phù hợp thực tế và đúng với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị D trình bày vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/1999. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Quá trình giải quyết chị D không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Nguyễn Khắc M.
[2]. Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Khắc M có 01 con chung là Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/12/1999. Hiện nay con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Trần Thị D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000335 ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết bản án để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.phúc thẩm./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Việt Dũng