- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa Huỳnh Thị L và Đặng Hoài L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21-02-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư;
- Ông Nguyễn Văn Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 562/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị L, sinh năm 1993; thường trú tại: Ấp S, xã K, huyện V, tỉnh Long An; tạm trú tại: Ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Đặng Hoài L1, sinh năm 1993; cư trú tại: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, nguyên đơn, chị Huỳnh Thị L trình bày:
Chị và anh Đặng Hoài L1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, hai bên đăng ký kết hôn vào ngày 07-9-2020 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Từ tháng 02-2023 đến nay chị và anh L1 đã sống ly thân và không có biện pháp gì để hàn gắng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được và không thể đoàn tụ nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh L1.
Về con chung: Có 02 con chung là Đặng Hoài Â, sinh ngày 14-11-2020 và Đặng Huỳnh Thiên K, sinh ngày 09-12-2022, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, dù anh Đặng Hoài L1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, vắng mặt trong các phiên họp và tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Anh Đặng Hoài L1 và chị Huỳnh Thị L tranh chấp về ly hôn; anh L1 cư trú tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
[2] Nguyên đơn, chị Huỳnh Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn, anh Đặng Hoài L1 không có đơn xin xét xử vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh L1, chị L.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa anh Đặng Hoài L1 và chị Huỳnh Thị L là hợp pháp vì có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 07-9-2020. Theo chị L, chị và anh L1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, sau khi cưới vợ chồng sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do có nhiều xung đột, không hợp nhau về lối sống nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, từ tháng 02-2023 đến nay vợ chồng sống ly thân mà không có biện pháp gì để hàn gắng. Mặc dù nguyên nhân mâu thuẫn do chị L nêu, nhưng anh L1 không có ý kiến gì phản đối là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh. Anh L2 cũng không đến Tòa để hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều đó cho thấy anh L2 đã không còn quan tâm đến hôn nhân với chị L. Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” và “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Qua đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa anh L2 và chị L đã không còn tình nghĩa vợ chồng, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không còn nên mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ.
Về con chung: Theo lời trình bày của chị L, chị L và anh L2 có 02 con chung là cháu Đặng Hoài Â, sinh ngày 14-11-2020 và cháu Đặng Huỳnh Thiên K, sinh ngày 09-12-2022. Chị L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L2 phải cấp dưỡng nhưng anh L2 không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao các con chị chị L nuôi dưỡng là phù hợp, việc cấp dưỡng chị L không yêu cầu nên chưa xét đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L, anh L2 đều không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết sau bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Huỳnh Thị L là nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L.
- Về hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị L được ly hôn với anh Đặng Hoài L1.
- Về con chung: Giao các cháu Đặng Hoài Â, sinh ngày 14-11-2020 và cháu Đặng Huỳnh Thiên K, sinh ngày 09-12-2022 cho chị Huỳnh Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Anh Đặng Hoài L1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L chưa yêu cầu. Anh L2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002591 ngày 07-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, nên xem như đã thi hành xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Thị L, anh Đặng Hoài L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - UBND xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thực |