vanban.org

Bản án 41/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa là vợ chồng.

Về con chung: Giao Ngô Văn Nhứt, sinh ngày 02/02/2008 cho bà Tạ Thanh Hiền nuôi dưỡng, ông Hòa không yêu cầu cấp dưỡng. Ông Ngô Văn Hòa vẫn có có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thanh Hiền - Ngô Văn Hòa"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NG
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07 – 5 – 2025
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Tươi

Ông Trần Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ân Tình - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh Cà Mau.

Ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tạ Thanh Hiền, sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Cư trú: Khóm Rạch Gốc B, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ng, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Ngô Văn Hòa, sinh năm 1969 (Vắng mặt).

Cư trú: Khóm Rạch Gốc B, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ng, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 02 năm 2025 nguyên đơn bà Tạ Thanh Hiền trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và ông Ngô Văn Hòa tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và không có đăng kí kết hôn. Vợ chồng ban đầu chung sống hạnh phúc cho đến nhiều năm nay thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, nhiều lần vợ chồng hàn gắng nhưng không đem lại kết quả. Xét thấy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi làm đơn xin ly hôn với ông Ngô Văn Hòa.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên: Ngô Văn Nhứt, sinh ngày 02/02/2008. Hiện nay con đang sống với tôi, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung và nợ thu: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Ngô Văn Hòa trình bày:

Về hôn nhân: Theo lời trình bày của bà Hiền là đúng, vợ chồng chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn, nay ông đồng ý ly hôn với bà Hiền.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên: Ngô Văn Nhứt, sinh ngày 02/02/2008. Hiện nay con đang sống với bà Hiền, sau khi ly hôn tôi đồng ý giao con cho bà Hiền nuôi, tôi không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung và nợ thu: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHÂN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Tạ Thanh Hiền khởi kiện xin ly hôn với ông Ngô Văn Hòa, địa chỉ: Khóm Rạch Gốc B, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ng, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà Hiền và ông Hòa tại phiên tòa.

[2] Về hôn nhân: Bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa tự nguyện chung sống vào năm 2002, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống, bà Hiền xác định có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm nên hôn nhân không hạnh phúc, bà Hiền vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông Hòa. Xét thấy, việc bà Hiền và ông Hòa chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định nên không được pháp luật thừa nhận. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa là vợ chồng.

[3] Về con chung: Bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa có 01 người con chung tên Ngô Văn Nhứt, sinh ngày 02/02/2008. Hiện nay con đang sống với bà Hiền, sau khi ly hôn bà Hiền yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cháu Nhứt thì bà Hiền có đủ điều kiện. Xét thấy, cháu Nhứt đã sống chung với bà Hiền từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần. Đồng thời phù hợp với đơn ngày 14/4/2025 của cháu Nhứt có nguyện vọng được sống với bà Hiền. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho bà Hiền nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với ông Hòa là cha của cháu Nhứt vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Hiền và ông Hòa không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ thu, nợ trả: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Tạ Thanh Hiền phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 14, 15, 16; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Tạ Thanh Hiền và ông Ngô Văn Hòa là vợ chồng.

Về con chung: Giao Ngô Văn Nhứt, sinh ngày 02/02/2008 cho bà Tạ Thanh Hiền nuôi dưỡng, ông Hòa không yêu cầu cấp dưỡng.

Ông Ngô Văn Hòa vẫn có có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Tạ Thanh Hiền phải nộp 300.000 đồng, bà Hiền có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0015413 ngày 28/3/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ng được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ