- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày 06-5-2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, T NH B NH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bình
2. Ông Nguyễn Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 459/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67A/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số nhà U2, đường T2, tổ V2, thôn X2, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B.
- Bị đơn: Anh Nguyễn H1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số nhà U2, đường T2, tổ V2, thôn X2, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B.
Chị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh H1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào năm 1996 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 25 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về tài chính gia đình, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vả. Vợ chồng đã ly thân được gần 03 năm.
Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn H1.
Về con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn H1 đã được Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh H1 không đến Toà án làm việc, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Ngày 13/3/2025, Tòa án xác minh với ông Nguyễn Tín là cha ruột của anh H1 về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình chung sống giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn H1 tại nơi cư trú và được cung cấp: Anh H1 và chị H là vợ chồng có đăng ký thường trú và sinh sống tại thôn 1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vả, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Đôi lần anh H1 đi uống rượu về say xỉn có la mắng, nói nặng lời với chị H. Do đó, anh chị đã ly thân với nhau được 03 năm, không còn chung sống và không còn quan tâm đến nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
+ Về nội dung vụ án: Thấy rằng năm 1996, chị H, anh H1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B, do đó hôn nhân là hợp pháp. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H, anh H1 đã trầm trọng thể hiện ở việc vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, anh chị đã ly thân với nhau được 03 năm. Chị H cương quyết muốn ly hôn, anh H1 được Tòa án mời làm việc nhưng không tham gia, không quan tâm đến việc chị H khởi kiện, nay chị H yêu cầu ly hôn cần chấp nhận; Về con chung, về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết là có cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 21/4/2025 và ngày 06/5/2025 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn H1 tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01 ngày 25/10/1996, nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Theo tài liệu thu thập và lời trình bày của chị H, trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được 25 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về tài chính gia đình, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vả. Vợ chồng đã ly thân được gần 03 năm. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị H yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn H1.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn H1 đến làm việc để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H1 không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh, chị đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh Nguyễn H1 bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân, cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị H và anh H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị Trần Thị H.
Về con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét là có cơ sở.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn H1. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 8, 9, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn H1 về việc ly hôn.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn H1.
1.2. Về con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án không giải quyết.
1.3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004975 ngày 20/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Chị Trần Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Đức Linh; - Chi cục THADS huyện Đức Linh; - UBND xã Đ, huyện Đ1, tỉnh B; - Đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Mỹ Dung |