- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HSST Ngày 25/03/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Phương
Ông Nguyễn Hà
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình - thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại Phòng xét xử trực tuyến tại Điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Điểm cầu thành phần tại Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXX ngày 13 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo: Lò Văn T, sinh năm: 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản LM, xã CE, huyện SM, tỉnh SL; Nơi ở: không cố định. Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lò Văn P (đã mất); Họ tên mẹ: Lò Thị D, sinh năm: 1954; Gia đình bị cáo có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Họ tên vợ: Lường D, sinh năm: 1984. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008. Danh chỉ bản số 337 lập ngày 30/11/2023 tại Công an quận Ba Đình.
Tiền án, tiền sự: 03 tiền án, 0 tiền sự.
- Về tiền án:
1, Bản án số 09/2005/HSST ngày 15/03/2005, Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh SL xử 12 tháng tù, tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị cáo T trộm cắp là 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Ra trại ngày: 06/01/2006. (đã được xóa án tích).
2, Bản án số 112/2007/HSST ngày 26/09/2007, Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh SL xử 18 tháng tù, tội Trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản bị cáo T trộm cắp là 850.000 đồng (Tám trăm năm mươi nghìn đồng). Ra trại ngày: 22/1/2009. (đã được xóa án tích).
3, Bản án số 53/2019/HSST ngày 18/06/2019, Tòa án nhân dân huyện SM, tỉnh SL xử 22 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Ra trại ngày 15/10/2020. (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 15/09/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I, Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Bà Lưu Thùy L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hà Nội.
(Bà L có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15/9/2023, tại trước cửa số nhà 25 ngõ 75 đường HH, PX, quận Ba Đình, Hà Nội, Tổ công tác công an phường PX tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lò Văn T cùng Trần Văn T1 đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, tổ công tác công an phường PX thu giữ trong lòng bàn tay trái của Lò Văn T 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 03 (ba) gói giấy màu trắng kích thước 0.5 cm x 1 cm bên trong chứa chất bột màu trắng được bọc trong 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000đồng (Một nghìn đồng) tại túi quần bên phải phía trước của T đang mặc. Lò Văn T khai là ma túy loại Heroine, mua về để bán kiếm lời. Tổ công tác đưa T cùng vật chứng về trụ sở để điều tra làm rõ.
Quá trình kiểm tra, Trần Văn T1 lợi dụng sơ hở, đã bỏ chạy được theo hướng đường HH, đến ngày 16/09/2023, thì bị tổ công tác công an phường PX đưa về trụ sở để làm rõ.
Vật chứng thu giữ của Lò Văn T:
+ Tiền Việt Nam: 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ trong lòng bàn tay trái của T.
+ 01 (Một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000đồng (Một nghìn đồng)
+ 03 (Ba) gói giấy màu trắng kích thước 0.5 cm x 1 cm bên trong chứa chất bột màu trắng.
+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu JVJ màu đen, số sim: 0398745195.
Theo Bản kết luận giám định số: 6286/KL-KTHS ngày 22 tháng 09 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội:
“ + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng, là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,008 gam.
+ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng, là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,046 gam.
+ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng, là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,043 gam.”
Tổng khối lượng số ma túy thu giữ, được giám định là 0,097gam, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Lò Văn T khai nhận: Vào khoảng 11 giờ ngày 15/09/2023, Lò Văn T đi bộ ra khu vực gầm cầu Long Biên thuộc địa phận phường PX, Ba Đình, Hà Nội để tìm mua ma túy với mục đích bán lại cho các con nghiện kiếm lời. Tại đây, T gặp 01 (một) nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và mua 03 (ba) gói ma túy Heroine với giá 250.000đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Mua xong, T đi ra phía sau chợ Long Biên và lấy 01 (một) gói heroine ra sử dụng một phần. Sau đó,T gói cả 03 (ba) gói ma túy Heroine vào trong một tờ tiền mệnh giá 1.000đồng (Một nghìn đồng) và cất vào trong túi quần bên phải phía trước của T đang mặc, rồi đi bộ theo đường HH, PX, Ba Đình, Hà Nội, để có ai hỏi mua thì sẽ bán lại.
Đến khoảng 14 giờ ngày 15/09/2023, T đến trước cửa số nhà 25 ngõ 75 đường HH thì có gặp 01 (một) nam thanh niên là Trần Văn T1 (SN: 1987, HKTT: 20 Hòe Nhai, Nguyễn Trung Trực, Ba Đình, Hà Nội), hỏi mua 01 gói ma túy của T. T đồng ý bán và thỏa thuận giá là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng)/01 (một) gói nhằm mục đích sẽ được lợi số tiền khoảng 120.000đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng)/01 (một) gói. T1 đã đưa cho T 200.000đồng, T cầm tiền bằng tay trái và tay phải cho vào túi quần phía trước bên phải T đang mặc để lấy 01 gói ma túy giao cho T1, khi chưa kịp lấy ma túy để giao thì T bị tổ công tác công an phường PX tiến hành kiểm tra hành chính, đã phát hiện, thu giữ số ma túy trên và đưa về trụ sở công an phường PX để giải quyết.
Lời khai của Trần Văn T1 khai nhận việc mua ma túy của T, phù hợp với lời khai của Lò Văn T cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trần Văn T1, nhân thân chưa có tiền án tiền sự về các loại tội phạm về ma túy, do vậy Công an quận Ba Đình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11 ngày 6/2/2024 đối với Trần Văn T1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 01/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình quyết định truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy“ theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 28 (Hai mươi tám) tháng đến 32 (Ba mươi hai) tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 46 Bộ luật Hình sự; Đề nghị tịch thu tiêu hủy: ma túy loại heroine, tổng khối lượng 0,097 gam; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu JVJ màu đen, số sim: 0398745195 và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 201.000đồng.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T - bà Lưu Thùy L trình bày: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát đề nghị. Hành vi của bị cáo T thực hiện đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo Lò Văn T là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình đông anh em, chính vì vậy, bị cáo chưa nhận thức được hết hành vi cũng như hậu quả do mình gây ra; Về nhân thân bị cáo mặc dù có tiền án, nhưng đều đã được xóa án tích; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật. Hơn nữa, do hoàn cảnh gia đình bị cáo được chính quyền xác nhận thuộc hộ nghèo; ông nội của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Bị cáo đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi mua bán trái phép chất ma tuý để kiếm lời của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội vì bị cáo là lao động chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự ; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/09/2023, tại trước cửa số nhà 25, ngõ 75 đường HH, PX, Ba Đình, Hà Nội, Lò Văn T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy, loại Heroine có khối lượng: 0,097 gam thì bị tổ công tác Công an phường PX, Ba Đình, Hà Nội, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. .
Bị cáo Lò Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Hành vi của bị cáo Lò Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
. Ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mục đích thu lợi cho cá nhân đã vi phạm pháp luật do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo được chính quyền xác nhận thuộc hộ nghèo; ông nội của bị cáo là người có công với Cách Mạng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa 0,097 gam ma túy loại heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 201.000 đồng. Trả lại cho bị cáo 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu JVJ màu đen, số sim: 0398745195 đã qua sử dụng.
. Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 10 Luật phí và Lệ phí ;
. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- điểm đ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án. Điều 10 Luật phí và Lệ phí ;
2. Xử phạt:
Bị cáo Lò Văn T 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên trong có chứa 0,097 gam ma túy loại heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo;
Trả lại cho bị cáo 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu JVJ màu đen, số sim: 0398745195 đã qua sử dụng.
(Vật chứng của vụ án hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao vật chứng số 101 ngày 22 tháng 03 năm 2024).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 201.000đồng (Hai trăm L một nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.106.1691 ngày 22 tháng 03 năm 2024 tại Kho bạc nhà nước quận Ba Đình;
4. Về án phí :
Bị cáo Lò Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND quận Ba Đình; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoài Phương |