- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Q Đ341 - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 27-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Út.
2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Ngọc Triều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tới – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thị Q, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1998 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Kim P; có chồng tên Lê Tấn Đ và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh từ ngày 23/4/2024 cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Q không biết chữ nên không thể đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật. Trần Thị Q sử dụng mạng xã hội Facebook phát hiện quảng cáo nhận làm giấy phép lái xe hạng A1 không cần đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe. Q liên hệ theo thông tin giới thiệu và được thông báo chi phí làm giấy phép lái xe là 1.500.000 đồng, Q đồng ý. Người này yêu cầu Q cung cấp hình ảnh cá nhân, căn cước công dân. Sau đó Q nhận được giấy phép lái xe hạng A1 qua bưu điện thanh toán số tiền 1.500.000 đồng.
Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 13/02/2024, Q sử dụng giấy phép lái xe trên và điều khiển xe mô tô biển số 70H1-538.59 trên đường ĐT795 đoạn thuộc ấp P, xã I, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì bị tổ Cảnh sát giao thông Công an huyện Tân Biên dừng phương tiện kiểm tra hành chính. Tiến hành đo nồng độ cồn trong cơ thể của Trần Thị Q kết quả 0,368 miligam/1 lít khí thở (vượt quá 0,25miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở). Quá trình kiểm tra đã lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ phương tiện, giấy phép lái xe của Q. Ngày 19/02/2024, Công an huyện Tân Biên tiến hành trưng cầu giám định đối với giấy phép lái xe do Q giao nộp. Kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) “GIẤY PHÉP LÁI XE” Số: 791226854587; Hạng A1; Họ tên: TRẦN THỊ Q; Ngày sinh: 10/10/1998; Nơi cư trú: Ấp H, X. T, H. B, T. Tây Ninh; Cấp ngày 09 tháng 11 năm 2022 là giấy phép lái xe giả. Ngày 20/3/2024, Công an huyện Tân Biên chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị Q. Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 43/CT-VKSTB ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo Trần Thị Q về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
Căn cứ khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Q từ 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng đến 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Q không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 13/02/2024, Trần Thị Q điều khiển xe mô tô biển số 70H1-538.59 lưu thông trên đường ĐT795 thì bị tổ Cảnh sát giao thông – Công an huyện Tân Biên dừng phương tiện kiểm tra hành chính và đo nồng độ cồn trong cơ thể kết quả 0,368 miligam/1 lít khí thở nên tạm giữ phương tiện, giấy phép lái xe. Kết luận giám định số 389/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE” Số: 791226854587; Hạng A1; Họ tên: TRẦN THỊ Q; Ngày sinh: 10/10/1998; Nơi cư trú: Ấp H, X. T, H. B, T. Tây Ninh; Cấp ngày 09 tháng 11 năm 2022 là giấy phép lái xe giả. Quá trình điều tra xác định Q không biết chữ, không thể đăng ký đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe nên đã mua giấy phép lái xe giả qua mạng xã hội Facebook với giá 1.500.000 đồng.
Hành vi của Trần Thị Q có đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 43/CT–VKSTB ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo là có căn cứ.
Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Hình phạt áp dụng:
Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo không có thu nhập, tài sản và khả năng thi hành hình phạt tiền, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối tượng có hành vi làm giấy phép lái xe giả cho Trần Thị Q không xác định được nhân thân, lý lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên chưa tiến hành làm việc được.
- Hành vi điều khiển xe mô tô hai bánh từ 50 – 175 cm3 mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở của Trần Thị Q, ngày 13/3/2024, Trưởng Công an huyện Tân Biên đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.500.000 đồng.
- Giấy phép lái xe giả số 791226854587 mang tên Trần Thị Q là vật chứng nên Hội đồng xét xử tịch thu lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Q 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Miễn việc khấu trừ thu nhập của bị cáo.
2. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Thị Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh; - VKSND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh; - Phòng KTNV.TA tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ công an huyện Tân Biên; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên; - Phòng lý lịch - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - UBND xã T, huyện B; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Hải |