vanban.org

Bản án 41/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Kim Chi + Đp - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày 18-7-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ

2. Ông Trƣơng Hữu Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ, là Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 40/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lâm Kim C, sinh năm 1966 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; con ông Lâm Văn T và bà Phan Thị T1 (đều đã chết); có chồng tên Võ Văn H và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 01/01/2024, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị Ngọc Phấn E, sinh năm 1976 tại tỉnh Bến Tre; nơi cƣ trú: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: bán vé số; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có chồng tên Nguyễn Văn G và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 01/01/2024, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Ngọc H1, sinh năm 1977 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cƣ trú: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Ngọc T2 và bà Lê Thị M1; vợ tên Lê Thị T3 và có 05 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 01/01/2024, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Anh P, sinh năm 1987, nơi cƣ trú: Ấp Thị T4, xã L, huyện D, Bình Dƣơng; vắng mặt.

2. Ông Trịnh Công L, sinh năm 1971, nơi cƣ trú: Ấp D, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; có mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1987, nơi cƣ trú: Ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; có mặt.

4. Ông Hồ Văn D, sinh năm 1987, nơi cƣ trú: Ấp Thị T4, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 15 giờ 10 phút, ngày 22/12/2023, Công an huyện D phối hợp với Công an xã L, huyện D tuần tra phòng chống tội phạm, phát hiện Nguyễn Anh P điều khiển xe mô tô biển số 61H1-390.11 trên đƣờng Đ, thuộc ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Tiến hành kiểm tra điện thoại di động của đƣơng sự P đang sử dụng Cơ quan Công an phát hiện có lƣu nhiều tin nhắn về mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị Ngọc P1 Em, (thƣờng gọi Giàu bán vé số) qua điện thoại di động nên đã mời P về trụ sở làm việc. Đồng thời qua đấu tranh mở rộng Công an huyện D, xác định Nguyễn Thị Ngọc P1 Em còn ghi đề cho Lê Ngọc H1; Trịnh Công L; Nguyễn Thị Ngọc N1 rồi giao lại cho Lâm Kim C thầu, cụ thể nhƣ sau:

Nguyễn Thị Ngọc P1 Em khai nhận: Khoảng thời gian giữa tháng 12/2023, trong thời gian Nguyễn Thị Ngọc Phấn E làm nghề bán vé số dạo trên địa bàn xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp và quen biết với Lâm Kim C, C nói với Em có phơi đề thì giao cho C để hƣởng tiền hoa hồng, thì E đồng ý. Hàng ngày, Em ở nhà tại ấp T, xã L, huyện D sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng, gắn sim số 0333.852.168 để nhắn tin SMS bán số lô, số đề cho các con bạc, sau đó chuyển phơi đề cho C qua số điện thoại 0352.539.030, gắn vào điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A5, màu đen.

Phấn Em sẽ bán số lô, số đề theo kết quả xổ số Miền Nam cho các con bạc sau đó chuyển cho Lâm Kim C thầu theo thỏa thuận hình thức chơi nhƣ sau:

Đặt cƣợc đầu đuôi 02 con số tức là cƣợc con số của hàng đơn vị và hàng chục của giải 08 (T5) và giải đặc biệt của 01 đài xổ số kiến thiết mở trong ngày, tổng cộng có 02 lô số. Nếu con bạc đặt cƣợc 1.000 đồng tính tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc thì tổng số tiền là 2.000 đồng, số tiền thực tế sau khi trừ hoa hồng con bạc phải trả là 1.560 đồng (78% tiền đặt cƣợc), tỷ lệ thắng 01 x 70.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 70.000 đồng).

Khi Em chuyển phơi đề, C sẽ nhận tiền thực tế với tỷ lệ 77% tiền đặt cƣợc và tỷ lệ thắng là 01 x 74.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 74.000 đồng).

Đặt cƣợc bao lô 02 con số tức là cƣợc con số của hàng đơn vị và hàng chục của 18 lô số của 01 đài xổ số kiến thiết mở trong ngày. Nếu con bạc đặt cƣợc 1.000 đồng tính tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc thì tổng số tiền là 18.000 đồng, số tiền thực tế sau khi trừ hoa hồng phải trả là 14.040 đồng (78% tiền đặt cƣợc), tỷ lệ thắng 01 x 70.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 70.000 đồng).

Khi Em chuyển phơi đề, C sẽ nhận tiền thực tế với tỷ lệ 77% tiền đặt cƣợc và tỷ lệ thắng là 01 x 74.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 74.000 đồng).

Đặt cƣợc bao lô 03 con số tức là cƣợc con số của hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm của 17 lô số của 01 đài xổ số kiến thiết mở trong ngày, nếu đặt cƣợc 1.000 đồng tính tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc thì tổng số tiền là 17.000 đồng, số tiền thực tế sau khi trừ hoa hồng phải trả là 13.260 đồng (78% tiền đặt cƣợc), tỷ lệ thắng 01 x 600.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 600.000 đồng).

Khi Em chuyển phơi đề, C sẽ nhận tiền thực tế với tỷ lệ 77% tiền đặt cƣợc và tỷ lệ thắng là 01 x 640.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 640.000 đồng).

Đặt cƣợc xỉu chủ tức là cƣợc con số của hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm của giải 07 (Bảy) và giải đặc biệt của 01 đài xổ số kiến thiết mở trong ngày, tổng cộng có 02 lô số, nếu đặt cƣợc 1.000 đồng tính tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc thì tổng số tiền là 2.000 đồng, số tiền thực tế sau khi trừ hoa hồng phải trả là 1.560 đồng (78% tiền đặt cƣợc), tỷ lệ thắng 01 x 600.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 600.000 đồng).

Khi Em chuyển phơi đề, C sẽ nhận tiền thực tế với tỷ lệ 77% tiền đặt cƣợc và tỷ lệ thắng là 01 x 640.000 đồng (Nghĩa là đặt cƣợc 1.000 đồng nếu thắng thì đƣợc 640.000 đồng).

Đá thẳng là đánh vào 02 con số hàng đơn vị, hàng chục tổng cộng có 36 lô số của 02 đài xổ số kiến thiết mở trong ngày, nếu đặt cƣợc 1.000 đồng tính tiền theo tỷ lệ. Ngoài ra, bị can Chi còn thống nhất cho bị can Em hƣởng thêm 10% tổng số tiền phơi đề khi Em chuyển cho C.

Ngày 22/12/2023, Nguyễn Thị Ngọc Phấn E đã trực tiếp bán số lô, số đề theo kết quả xổ số miền N (đài xổ số Vĩnh Long, Bình Dƣơng, Trà Vinh) cho các con bạc, cụ thể nhƣ sau:

Lê Ngọc H1: Sử dụng số điện thoại 0973.539.382 nhắn tin vào số điện thoại 0333.852.168 của Phấn E để mua các số đề gồm: Số A Đá thẳng 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 19 Bao lô 50.000 đồng; số 91 Bao lô 50.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 71-76 Đá thẳng 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 71 Bao lô 50.000 đồng; số 76 Bao lô 50.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 33-99 Đá thẳng 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 33 Bao lô 50.000 đồng; số 39 Bao lô 50.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 35 Đầu 100.000 đồng; số 35 Đuôi 100.000 đồng; số 35 Bao lô 50.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 53 Bao lô 50.000 đồng theo kết quả đài xổ số Bình Dƣơng.

Tổng số tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc là 8.480.000 đồng, tiền thực tế là 6.596.000 đồng.

Nguyễn Anh P: Ngày 22/12/2023 P sử dụng số điện thoại 0333.442.099 nhắn tin vào số điện thoại 0333.852.168 của Phấn E để mua số lô số đề số 68 Bao lô 200.000 đồng theo kết quả đài xổ số Bình Dƣơng.

Tổng số tiền theo tỉ lệ đặt cƣợc là 3.600.000 đồng, tiền thực tế phải trả là 2.800.000 đồng.

Trịnh Công L: Ngày 22/12/2023, L sử dụng số điện thoại 0374.393.016 nhắn tin vào số điện thoại 0333852168 của Phấn E (G) để mua số đề gồm: Số 35 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 35 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 35 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số T6; số 51 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 51 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 51 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số T6;

Tổng số tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc là 1.080.000 đồng, tiền thực tế là 840.000 đồng.

Nguyễn Thị Ngọc N1: Ngày 22/12/2023, N1 sử dụng số điện thoại 0333.534.418 nhắn tin vào số điện thoại 0333.852.168 của Phấn E để mua số lô số đề gồm: Số 467 Bao lô 10.000 đồng; số 67 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số Bình Dƣơng.

Tổng số tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc là 340.000 đồng, tiền thực tế là 280.000 đồng.

Hồ Văn D: Ngày 21/12/2023, D sử dụng điện thoại di động số 0989.948.551 nhắn tin vào số điện thoại 0333.852.168 của Phấn E, mua số đề số 70 bao lô 5000 đồng ; số 370 bao lô 5000 theo đài xổ tỉnh Tây Ninh.

Tổng số tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc là 175.000 đồng, tiền thực tế là 136.000 đồng.

Sau khi ghi số đề cho D, Phấn E giữ lại thầu, không chuyển cho Lâm Kim C.

Ngoài việc nhận ghi đề cho con bạc, bản thân Nguyễn Thị Ngọc P1 Em tự ghi đề với Lâm Kim C các số 872 Bao lô 5.000 đồng; số 872 Xỉu chủ 70.000 đồng; số 72 Bao lô 10.000 đồng; số 88 Đầu 50.000 đồng; số 88 Đuôi 30.000 đồng; số 35 Đầu 20.000 đồng; số 35 Đuôi 30.000 đồng; số 89 Bao lô 20.000 đồng; số 79 Bao lô 30.000 đồng, theo kết quả đài xổ số V; số 88 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 88 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 13 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số V; số 13 Bao lô 10.000 đồng theo kết quả đài xổ số Bình Dƣơng.

Tổng số tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc là 2.145.000 đồng, tiền thực tế là 1.651.650 đồng.

Nhƣ vậy, Nguyễn Thị Ngọc Phấn E đã trực tiếp đặt cƣợc và bán số lô, số đề theo kết quả xổ số miền N cho các con bạc với tổng số tiền theo tỷ lệ cƣợc là 15.655.000 đồng, tiền thực tế là 12.447.650 đồng. Sau đó, Phấn E đã nhắn tin chuyển phơi số lố, số đề cho Lâm Kim C với tổng số tiền theo tỷ lệ đặt cƣợc là 7.175.000 đồng, tiền thực tế là 5.524.750 đồng.

Lâm Kim Chi: Khoảng thời gian giữa tháng 12/2023, C quen biết với Nguyễn Thị Ngọc P1 Em ở chợ thấy Phấn E bán vé số dạo nên C kêu Phấn E nhận ghi đề cho con bạc rồi giao lại cho C thầu, C sẽ chiết khấu 01% tiền ghi đề đƣợc và trả cho P1 Em thêm 10 % tiền hoa hồng trên tổng số tiền ghi đƣợc, C thỏa thuận về việc ghi số đề, giao phơi đề qua điện thoại di động và xác nhận bằng cách nhắn tin trả lời “OK”. Còn tiền thắng thua khi có con bạc trúng đề sẽ gặp trực tiếp để tính thắng thua. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 12/2023 đến ngày 22/12/2023, C đã nhận khoảng 03 lần phơi đề do Phấn E chuyển qua điện thoại, khi biết Phấn E bị bắt nên C đã xóa hết thông tin.

Cáo trạng số 31/CT-VKSDT ngày 27/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lâm Kim C, Nguyễn Thị Ngọc P1 Em và Lê Ngọc H1 về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dƣơng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lâm Kim C từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P1 Em từ từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo và áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự bị cáo Lê Ngọc H1 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc Tiền Việt Nam: 3.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc P1 Em; 01 điện thoại di động hiệu S J7, màu vàng, IMEL1: 352810096994286, bên trong có gắn şim Viettel 0333.852.168, trên sim có dãy số 8984048000074218, của Nguyễn Thị Ngọc P1 Em: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A5, màu đen, IMEL1: 359601088040912, IMEL2: 359602088040910 bên trong không gắn sim (đã qua sử dụng của Lâm Kim C: 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A53 5G, màu xanh, số IMEI1: 353842198860726, bên trong có gắn sim Viettel 0973.539.382, trên sim có dãy số 8984048000073499004 đã qua sử dụng; tiền Việt Nam: 8.480.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc H1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, IMEL1: 865732058827751, IMEL2: 865732058827744 bên trong không có gắn sim số (đã qua sử dụng) của Nguyễn Thị Ngọc N1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, màu đen, số IMEI: 350753200858736, IMEI2: 352044980858734 bên trong có gắn sim số: 0374.393.016, trên sim có dãy số 8984048831005178116 (đã qua sử dụng) của Trịnh Công L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số xê rị: 353779045584044 bên trong có gắn sim số: 0333.442.099, trên sim có dãy số 898404800006419907 (đã qua sử dụng) của Nguyễn Anh P: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh, số IMEI1: 350944133764055, IMEI2: 353186703764050 bên trong có gắn sim số: 0989.948.551, trên sim có dãy số 8984048000050718459 (đã qua sử dụng) của Hồ Văn D đây là tiền và công cụ các bị cáo; con bạc sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.

Đối với hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền của Nguyễn Anh P; Trịnh Công L; Nguyễn Thị Ngọc N1; Hồ Văn D với tổng số tiền sử dụng đánh bạc trái phép dƣới 5.000.000 đồng (P 3.600.000 đồng; L 1.080.000 đồng; N1 340.000 đồng; D 175.000 đồng) dƣới mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc nên ngày 26/4/2024, Công an huyện D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19; 20; 21; 22/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép với mức phạt 350.000 đồng/ngƣời.

Đối với hành vi của Nguyễn Thị Ngọc P1 Em bán số lô, số đề cho Hồ Văn D ngày 21/12/2023, với tổng số tiền nhận ghi đề là 175.000 đồng chƣa đủ căn cứ cấu thành tội tổ chức đánh bạc theo quy định. Ngày 10/5/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 339/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Thị Ngọc P1 Em về hành vi làm chủ, lô đề mức phạt 15.000.000 đồng.

Đối với hành vi ghi số đề của Nguyễn Thị Ngọc Phấn E và Lâm Kim C khai nhận khoảng 02-03 lần (ngoài lần 22/12/2023 bị phát hiện) do ngoài lời khai của các bị can không có cơ sở để xác định việc đánh bạc trái phép nên không có cơ sở xử lý.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội nhƣ cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận:

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng truy tố đối với các bị cáo. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Căn cứ biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 10 phút, ngày 22/12/2023, tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng, Công an huyện D phát hiện Nguyễn Anh P có hành vi ghi số đề với Nguyễn Thị Ngọc P1 Em qua điện thoại di động. Quá trình điều tra xác định đƣợc vào ngày 22/12/2023, Nguyễn Thị Ngọc P1 Em thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dƣới hình thức ghi số đề với tổng số tiền 15.655.000 đồng thông qua điện thoại di động có số thuê bao 0333.852.168 cho Lê Ngọc H1 8.480.000 đồng; Nguyễn Anh P 3.600.000 đồng; Nguyễn Thị Ngọc N1 340.000 đồng; Trịnh Công L 1.080.000 đồng; Hồ Văn D 175.000 đồng, theo đài xổ số M2. Sau đó, Nguyễn Thị Ngọc Phấn E chuyển lại cho Lâm Kim C thông qua điện thoại di động có số thuê bao 0352.539.030 để hƣởng chênh lệch 01 % hoa hồng trên tổng số tiền ghi đƣợc và đƣợc C chiết khấu thêm 10% trăm trên tổng số tiền ghi đƣợc, các bị cáo và ngƣời đánh bạc chƣa xác định thắng thua thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của các bị cáo Lâm Kim C, Nguyễn Thị Ngọc P1 E và Lê Ngọc H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 31/CT-VKS-DT ngày 27 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. [3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là ngƣời đã thành niên, nhận thức rõ hành vi đánh bạc dƣới hình thức thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Trong vụ án có đồng phạm, nhƣng là đồng phạm giản đơn không có phân công vai trò cụ thể nên không coi là đồng phạm có tổ chức.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo C có cha là ông Lâm Văn T là ngƣời có công đƣơc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến Hạng ba; bị cáo Phấn E có cha là ông là ông Nguyễn Văn M là thƣơng binh và có hoàn cảnh khó khăn nên đƣợc xem xét giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời lao động, có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt chính: Xét các bị cáo Lâm Kim C và Nguyễn Thị Ngọc P1 Em có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hƣởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phƣơng, cần tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo dƣới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú là đủ. Đối với bị cáo Lê Ngọc H1 tham gia đánh bạc có vai trò thấp hơn nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe giáo dục. Ý kiến đề nghị hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, đối với Lâm Kim C cần thiết phạt bổ sung 20.000.000 đồng sung Ngân sách nhà nƣớc. Đối với bị cáo Phấn E có hoàn cảnh khó khăn đƣợc chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú xác nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Đối với bị cáo H1 do hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dung hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 3.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Phấn E và 8.480.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc H1; 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J7, màu vàng, IMEL1: 352810096994286; 01 điện thoại di động hiệu S A5, màu đen, IMEL1: 359601088040912, IMEL2: 359602088040910; 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A53 5G, màu xanh, số IMEI1: 353842198860726; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, IMEL1: 865732058827751, IMEL2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, màu đen, số IMEI: 350753200858736, IMEI2: 352044980858734; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số xê ri: 353779045584044 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh, số IMEI1: 350944133764055, IMEI2: 353186703764050 là công cụ phƣơng tiện sử dụng vào việc ghi số đề, cần tịch thu sung Ngân sách nhà nƣớc.

Đối với şim Viettel 0333.852.168, trên sim có dãy số 8984048000074218; sim Viettel 0973.539.382, trên sim có dãy số 8984048000073499004; sim số: 0374.393.016, trên sim có dãy số 8984048831005178116; sim số: 0333.442.099, trên sim có dãy số 898404800006419907; sim số: 0989.948.551, trên sim có dãy số 8984048000050718459 là công cụ phƣơng tiện dùng vào việc ghi số đề không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với hành vi ghi số đề của Nguyễn Anh P 3.600.000 đồng; Nguyễn Thị Ngọc N1 340.000 đồng; Trịnh Công L 1.080.000 đồng; Hồ Văn D 175.000 đồng chƣa đủ định lƣợng để xử lý hình sự. Ngày 26/4/2024, Công an huyện D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19; 20; 21; 22/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép với mức phạt 350.000 đồng/ngƣời là đúng quy định.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Lâm Kim C, Nguyễn Thị Ngọc P1 Em và Lê Ngọc H1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Kim C 10 (mƣời) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2024).

Phạt bổ sung Lâm Kim C 20.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nƣớc.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P1 Em 08 (tám) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2024).

Huỷ bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đối với các bị cáo Lâm Kim C và Nguyễn Thị Ngọc Phấn E.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35;Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H1 30.000.000 (ba mƣơi triệu) đồng sung Ngân sách nhà nƣớc.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đối với bị cáo Lê Ngọc H1.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc 11.480.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S J7, màu vàng, IMEL1: 352810096994286 của Nguyễn Thị Ngọc P1 Em; 01 điện thoại di động hiệu S A5, màu đen, IMEL1: 359601088040912, IMEL2: 359602088040910; 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A53 5G, màu xanh, số IMEI1: 353842198860726; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, IMEL1: 865732058827751, IMEL2: 865732058827744; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04S, màu đen, số IMEI: 350753200858736, IMEI2: 352044980858734; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số xê ri: 353779045584044 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu xanh, số IMEI1: 350944133764055, IMEI2: 353186703764050 (tất cả điện thoại đều đã qua sử dụng).

Tịch thu tiêu huỷ 01 sim Viettel 0333.852.168, trên sim có dãy số 8984048000074218; 01 sim Viettel 0973.539.382, trên sim có dãy số 8984048000073499004; 01 sim số: 0374.393.016, trên sim có dãy số 8984048831005178116; 01 sim số: 0333.442.099, trên sim có dãy số 898404800006419907; 01 sim số: 0989.948.551, trên sim có dãy số 8984048000050718459.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lâm Kim C, Nguyễn Ngọc P1 Em và Lê Ngọc H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ