- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trương Thị M yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Huy H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M đối với ông Nguyễn Huy H về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 5 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Hiền
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Tòa án nH dân thị xã Phú Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ: Bà Bùi Thị Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐST – HNGĐ ngày 06/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 27/2024/QĐST – HNGĐ ngày 16/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 1996
Địa chỉ: Tổ X, thôn C, xã T, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Tổ X, thôn C, xã T, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Trương Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Huy H vào năm 2018, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 04/9/2018.
Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung. Ông H thường xuyên nhậu say xỉn về kiếm chuyện gây gỗ với bà, có khi còn đánh bà gây ảnh hưởng đến sức khỏe, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Bà và ông H đã sống ly tH hơn 01 năm nay, không ai quan tâm đến nhau. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông H nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
- Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 26/01/2021. Từ khi sống ly thân, cháu G sống với bà. Khi ly hôn, bà M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu G đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Bà M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung, thay đổi gì.
Quá trình tham gia tố tụng tại Toà án bị đơn ông Nguyễn Huy H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với điều kiện kết hôn và thời gian kết hôn như bà M đã trình bày.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn gì. Chỉ từ sau khi bà M đi làm ở Công ty may tại Bà Rịa thì bà M thay đổi tính tình, cọc cằn, tránh né ông, ông không biết lý do vì sao. Thi thoảng vợ chồng có cãi vã, to tiếng với nhau vì những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống, không đến mức trầm trọng phải ly hôn. Nên bà M yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý. Ông mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm.
Về con chung: Ông và bà M có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 26/01/2021. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ông và bà M ly hôn, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu G đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay ông làm công việc phụ bán trái cây ở chợ Bà Rịa, thu nhập bình quân từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ phát biểu quan điểm:
Qua nghiên cứu, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa dân sự sơ thẩm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng thấy:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa.
- Đối với nguyên đơn đã chấp hành tốt các quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M đối với ông Nguyễn Huy H cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Huy H.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 26/01/2021 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà M phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự, quan hệ pháp luật vụ án là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Bị đơn ông Nguyễn Huy H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H.
. Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp đã có đủ cơ sở xác định: Bà Trương Thị M, ông Nguyễn Huy H tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 04/9/2018 tại Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã M, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên quan hệ hôn nH giữa các bên là hợp pháp.
Xét về quan hệ hôn nhân của bà M, ông H: Bà M xác định vợ chồng chung sống nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã, nhiều khi vợ chồng còn xảy ra xô xát làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của bà M. Quá trình tố tụng bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông H.
Ông H xác định vợ chồng chung sống có mâu thuẫn nhưng không trầm trọng đến mức phải ly hôn nên không đồng ý ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã hướng các đương sự hoà giải đoàn tụ nhưng không có kết quả. Ông H mong muốn đoàn tụ nhưng không có động thái nào để tự hàn gắn tình cảm với bà M. Tại phiên toà bà M vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với ông H, điều đó khẳng định bà M hoàn toàn không còn tình cảm với ông H.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà M, ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà M đối với ông H.
Về con chung: Bà M và ông H có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 26/01/2021. Khi ly hôn, bà M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc G đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Ông H không đồng ý giao cháu H cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng mà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Xét nguyện vọng nuôi con của bà M, ông H thấy: Cháu G hiện nay còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ và hiện đang sống với bà M. Do đó, để cháu G có được sự chăm sóc tốt, ổn định về nơi ở, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần thì cần thiết giao cháu G cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M, ông H không yêu cầu xem xét mức cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xem xét.
. Về án phí: Bà Trương Thị M phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nH và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M đối với ông Nguyễn Huy H về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Huy H.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Nguyễn Huy H giao cháu Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 26/01/2021 cho bà Trương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Huy H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Huy H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nH, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trương Thị M phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nH và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003079 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà Trương Thị M đã nộp đủ án phí.
3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời H thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - UBND xã Tân Hải; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thu Hiền |