- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN Q - B"
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày 15-3-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Bích Liên;
2. Bà Đinh Thị Kim Phụng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Trường Bảo Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 03 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 217/2023/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim Q, sinh năm: 1985;
Địa chỉ: ấp TH, xã TL, huyện CG, tỉnh Long An. (Xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn B, sinh năm: 1984;
Nơi cư trú cuối cùng: ấp MX, xã TT, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Chị và anh B chung sống với nhau từ năm 2013, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã TL, huyện CG, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 155 vào ngày 13/12/2013. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, anh B không quan tâm vợ con. Từ năm 2017 anh B bỏ nhà đi không liên lạc được chị cũng không biết anh B đang làm gì, ở đâu, gia đình đã tìm mọi cách để tìm kiếm nhưng không có kết quả. Tháng 6/2020 em ruột của anh B đã nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố anh Bùi Văn B mất tích. Đến ngày 04/12/2020 Toà án nhân dân Thị xã GC đã ra Quyết định số 12/2020/QĐST-VDS tuyên bố anh Bùi Văn B mất tích. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh B.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Bùi Trần An Nh, sinh ngày 01/4/2015 và Bùi Trần Thuỷ T, sinh ngày 20/8/2017. Khi ly hôn chị Q yêu cầu trực tiếp nuôi 02 người con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng tại phiên toa hôm nay anh B vẫn vắng mặt, không có tin tức gì.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Bùi Văn B có địa chỉ cư trú cuối cùng tại xã TT, thị xã GC nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Q xin ly hôn với anh B, yêu cầu nuôi con chung, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được toà án tuyên bố mất tích. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[4] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Q và anh B chung sống với nhau từ năm 2013, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã TL, huyện CG, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 155 vào ngày 13/12/2013 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh Bùi Văn B đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 12/2020/QĐST-VDS ngày 04/12/2020 quyết định này đã có hiệu lực pháp luật và đến ngày mở phiên toà anh B vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q với anh B.
- Về con chung: Anh chị có 02 người con chung tên Bùi Trần An Nh, sinh ngày 01/4/2015 và Bùi Trần Thuỷ T, sinh ngày 20/8/2017. Khi ly hôn chị Q yêu cầu trực tiếp nuôi 02 người con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy kể từ khi anh B bỏ nhà đi biệt tích đến nay thì 02 người con chung vẫn do chị Q trực tiếp nuôi dưỡng và đảm bảo cho con phát triển về mọi mặt; cháu Bùi Trần An Nh cũng có nguyện vọng tiếp tục sống cùng với chị Q. Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Bùi Trần An Nh và cháu Bùi Trần Thuỷ T cho chị Trần Thị Kim Q tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp cần thiết thì các đương sự được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nhằm đảm bảo quyền lợi cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[5]. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các l trên,
QUY T ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015;
- Các Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
X :
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Q.
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kim Q được ly hôn với anh Bùi Văn B.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Kim Q được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung tên Bùi Trần An Nh, sinh ngày 01/4/2015 và Bùi Trần Thuỷ T, sinh ngày 20/8/2017. Anh Bùi Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trần Thị Kim Q không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Trong trường hợp cần thiết vì lợi ích của con thì anh B, chị Q được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Kim Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo B lai thu số 0027687 ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Q đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh Bùi Văn B không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh TG; - VKSND TXGC; - C.C THADS TXGC; - Các đương sự; - UBND xã TL, CG, LA; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Thảo |