- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mỹ D ly hôn, tranh chấp nuôi con Nguyễn Tấn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Mỹ D đối với anh Nguyễn Tấn T. Chị Phạm Thị Mỹ D được ly hôn anh Nguyễn Tấn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:41/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 22-5-2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Minh Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Hoài Hiêm;
2. Ông Trần Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Mỹ D, sinh năm 1993.
Địa chỉ: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - Xin vắng mặt
- Bị đơn: anh Nguyễn Tấn T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh - Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ D trình bày:
Chị và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay là UBND phường T), tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2019 thì vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn, do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng chị thường xuyên gây gỗ, nên hiện nay không thể chung sống với nhau được. Hiện vợ chồng đã ly thân nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/7/2013. Cháu P hiện đang sống với chị D. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc cháu P, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án lấy lời khai, bị đơn - anh Nguyễn Tấn T vắng mặt có đơn trình bày:
Anh và chị D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay là UBND phường T), tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì hai vợ chồng cũng có lời qua tiếng lại thì vợ chồng bất đồng quan điểm thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2019. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Nay anh đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/7/2013. Cháu P hiện đang sống với chị D. Nếu Tòa án cho ly hôn thì anh đồng ý để chị D tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc cháu P, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Mỹ D yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Tấn T.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/7/2013 cho chị Phạm Thị Mỹ D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Chị D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ D, bị đơn anh Nguyễn Tấn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay là UBND phường T), tỉnh Tây Ninh được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị D và anh T đã ly thân, do trong cuộc sống quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Tòa án đã làm việc đối với anh T thể hiện nguyện vọng của anh T đồng ý ly hôn với chị D. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị D và anh T có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/7/2013. Nguyện vọng của cháu P muốn được sống với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/7/2013 cho chị Phạm Thị Mỹ D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Mỹ D đối với anh Nguyễn Tấn T. Chị Phạm Thị Mỹ D được ly hôn anh Nguyễn Tấn T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/7/2013 cho chị Phạm Thị Mỹ D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: chị D, anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Phạm Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015288 ngày 29 tháng 2 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND phường T; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Minh Tú |