- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-4-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Mẫn Xuyên
Bà Nguyễn Thị Hồng Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 649/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị và anh Huỳnh Văn N tự nguyện sống chung năm 2011 nhưng đến nay chưa thực hiện đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng dần về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn trong tình cảm và kinh tế gia đình thời gian dài làm cho hôn nhân không hạnh phúc, nhiều lần cả hai tìm cách hàn gắn không thành. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị L xin ly hôn với anh Huỳnh Văn N; Về con chung, có hai con chung gồm Lê Gia B, sinh ngày 19/8/2012 (giới tính nam) và Lê Thị Anh T, sinh ngày 22/9/2014 (giới tính nữ). Khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi Lê Thị Anh T và giao Lê Gia B cho anh Huỳnh Văn N nuôi dưỡng, cả hai chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Văn N được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày trong vụ kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau: Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Về nội dung vụ án, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân, không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng; Về con chung, nguyên đơn được trực tiếp nuôi cháu T, cháu B giao bị đơn nuôi, cả hai chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Xét nguyên nhân mâu thuẫn giữa các đương sự, là do tính tình không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cải vả, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, dẫn đến ly thân. Trong thời gian sống ly thân, các đương sự không gặp gỡ để tìm biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân, không còn quan tâm lẫn nhau, chứng minh quan hệ hôn nhân giữa các đương sự đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, xét hôn nhân giữa các đương sự tuy được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 14; Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn chị Lê Thị L và bị đơn anh Huỳnh Văn N.
Về con chung: Nguyên đơn chị Lê Thị L yêu cầu nuôi con chung Lê Thị Anh T, sinh ngày 22/9/2014 (giới tính nữ) đối với con chung Lê Gia B, sinh ngày 19/8/2012 (giới tính nam) giao anh N nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của các con chung, cháu B có nguyện vọng được sống với anh N và cháu T có nguyện vọng sống với chị L. Trong thời gian cả hai sống ly thân thì các cháu đã sống ổn định với chị L và anh N. Căn cứ về điều kiện cũng như nguyện vọng của các con chung, Hội đồng xét xử ổn định chị L nuôi cháu T và anh N nuôi cháu B.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị L và anh N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144 và Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 14, 15, 16, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận nguyên đơn chị Lê Thị L và anh Huỳnh Văn N là vợ chồng.
2. Về con chung: Chị Lê Thị L trực tiếp nuôi Lê Thị Anh T, sinh ngày 22/9/2014 (giới tính nữ); anh Huỳnh Văn N trực tiếp nuôi Lê Gia B, sinh ngày 19/8/2012 (giới tính nam), cả hai chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Lê Thị L và anh Huỳnh Văn N, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006220 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp thành án phí.
5. Nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Phụng Hiệp; - Chi cục THADS huyện Phụng Hiệp; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hiếu |