- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNHĐ"
- Tòa quyết gì? 1, Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn T được ly hôn chị Đỗ Thị Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41 /2024/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 08 năm 2024 V/v “Ly hôn; tranh chấp về con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Thuần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Miện
2. Ông Nguyễn Xuân Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Chi- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy- Kiểm sát viên.
Trong ngày 08/08/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 05 năm 2024 về việc“ Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 06 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 76/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Ngô Văn T- Sinh năm 1992 (Có mặt)
Cư trú: thôn Đồng Đ, xã Hợp Th, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: chị Đỗ Thị Ph- Sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Cư trú: thôn Đồng Đ, xã Hợp Th, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/05/2024, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn anh Ngô Văn T trình bày:
Anh và chị Đỗ Thị Ph trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Hợp Thịnh ngày 12/01/2016, sau khi kết hôn chị Phúc về sống chung cùng anh ngay, vợ chồng thời gian đầu sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, vợ chồng không còn ăn, ngủ cùng nhau,vợ chồng chình thức đã sống ly thân kể từ tháng 03/2024 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giải quyết cho chị được ly hôn chị Đỗ Thị Ph.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Thị Kim Ngân, sinh ngày 21/01/2018, hiện nay con chung đanh sinh sống cùng chị Phúc, ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị Phúc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phúc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng trên tháng, anh đồng ý theo yêu cầu của chị Phúc.
- Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản, công nợ gì. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Đỗ Thị Ph tại bản tự khai; biên bản ghi lời khai giải trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và Ngô Văn T trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Hợp Thinh, như anh Tâm trình bày là đúng, sau khi kết hôn chị về sống chung cùng anh Tâm ngay, vợ chồng thời gian đầu sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng mâu thuẫn cãi nhau từ tháng 3/2024, đã sống ly thân, không còn, ăn, ngủ cùng nhau, vợ chồng ly thân từ 3/2024 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Tâm vẫn còn, chị mong muốn vợ chồng về đoàn tụ, anh Tâm xin ly hôn chị không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Tâm.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Thị Kim Ngân, sinh ngày 21/01/2018, hiện nay con chung đanh sinh sống cùng chị, ly hôn chị đề nghị giao con chung cho chị được nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị anh Tâm cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung; công nợ; ruộng đất: Chị xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Căn cứ Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Xử:
1, Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn T được ly hôn chị Đỗ Thị Ph.
2, Về con chung: giao cho chị Đỗ Thị Ph được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ngô Thị Kim Ngân, sinh ngày 21/01/2018.
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Tâm có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng chị Phúc 2.000.000 đồng/01 tháng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024.
3, Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4, Về công nợ chung, ruộng đất, công sức: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
5, Về án phí: Anh Tâm phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Tâm đã nộp và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về việc vắng mặt đƣơng sự tại phiên tòa:
Bị đơn là chị Đỗ Thị Ph đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tình cảm: Anh Ngô Văn T và chị Đỗ Thị Ph kết hôn ngày 12/01/2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hợp Thịnh, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Hôn nhân tự nguyện, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn, là hôn nhân hợp pháp (Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình). Theo lời trình bày của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì xác định được trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 03/2024 cho đến nay, không còn quan hệ tình cảm, không còn chung sống với nhau, anh Tâm có đơn xin ly hôn, chị Phúc không đồng ý ly hôn, tuy nhiên chị Phúc cũng không có biện pháp gì để vợ chồng về đoàn tụ; Quá trình giả quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị Phúc vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ chị Phúc cũng không thật sự mong muốn vợ chồng về đoàn tụ.
Xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần xử cho anh Tâm được ly hôn chị Đỗ Thị Ph là phù hợp với quy định theo Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Thị Kim Ngân, sinh ngày 21/01/2018, hiện nay đang sinh sống cùng chị Phúc, quá trình giải quyết vụ án cả anh Tâm và chị Phúc đã thống nhất giao con chung cho chị Phúc nuôi dưỡng, do vậy cần giao con chung cho chị Phúc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phúc yêu cầu anh Tâm cấp dưỡng nuôi con cùng chị là 2.000.000 đồng/01 tháng, anh Tâm đồng ý với mức cấp dưỡng nếu trên do vậy yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Phúc là phù hợp, cần chấp nhận.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các bên đương sự xác định không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Ngô Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1, Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn T được ly hôn chị Đỗ Thị Ph.
2, Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Ph được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Ngô Thị Kim Ngân, sinh ngày 21/01/2018
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Tâm có trách nhiệm cấp dướng nuôi con cùng chị Phúc 2.000.000 đồng/01tháng, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tình từ tháng 8/2024.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4, Về công nợ chung, ruộng đất, công sức: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
5, Về án phí: Anh Ngô Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Tâm đã nộp. Anh Ngô Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hiệp Hòa; - CCTHADS huyện Hiệp Hòa; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Các đương sự; - UBND xã Hợp Thịnh; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Ngô Thanh Thuần |