vanban.org

Bản án 41/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vy Vĩnh Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Vy Vĩnh Tr số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Vinh Tr - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HÒA
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HSST
Ngày 26/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Vĩnh Nam và Bà Phan Thị Oanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Dương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2023/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Vy Vĩnh Tr sinh ngày: 26 tháng 01 năm 1971 tại xã NĐ, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng.

Nơi thường trú và cư trú: Xóm P, xã NĐ, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Công nhân Công ty X Cao Bằng (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vy Văn Th (đã chết) và bà Đoàn Thị O, sinh năm 1937; có vợ: Phạm Thị N, sinh năm: 1972, con: có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005; anh, chị, em ruột: Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh em; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nông Văn Đ, sinh năm 1976. Trú tại: Xóm QP, thị trấn QU, Quảng Hoà, Cao Bằng. Vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1949 (mẹ bị hại); bà Vi Thị B, sinh năm 1977; Nông Thị Hương Nh, sinh năm 2000, Nông Quốc T, sinh năm 2010 (là vợ và con ông Đ). Đều trú tại: Xóm QP, thị trấn QU, Quảng Hoà, Cao Bằng. Người đại diện theo ủy quyền của bà H, bà B, anh T là chị Nông Thị Hương Nh (theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2023). Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lục Thị L, sinh năm 1969; trú tại: Xóm PC, thị trấn QU, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Sầm Đức L, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố PC, thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 04/02/2023, Vy Vĩnh Tr điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát (BKS): 11U1 - 023.88 từ nhà đến Trang trại chăn nuôi TH thuộc Công ty X Cao Bằng ở xã ĐD, huyện TK, Cao Bằng để làm việc. Khi đi đến đoạn đường km2 + 290, tỉnh lộ 206 thuộc địa phận xóm Pác Cam, thị trấn Quảng Uyên, Quảng Hoà, do trời tối và mưa, Tr đội mũ bảo hiểm loại trùm đầu, mặc áo mưa, kính mũ bảo hiểm bị mờ không nhìn rõ đường nên Tr đã điều khiển xe mô tô đi vào phần mép đường bên phải theo chiều đi của mình, cùng lúc có ánh sáng chói vào mắt, Tr không nhìn rõ đường phía trước và không giảm tốc độ nên khi phát hiện xe mô tô BKS: 11U1 – 118.42 của bà Lục Thị L đang dựng tại mép đường bên phải trước cổng nhà ông Chu Viết Kh (đang tổ chức đám cưới) không kịp xử lý đã va quệt vào xe mô tô của bà L. Sau đó, xe mô tô Tr điều khiển tiếp tục lao đi đâm vào ông Nông Văn Đ, sinh năm 1976, trú tại: xóm QP, thị trấn QU, Quảng Hòa, Cao Bằng đang đi bộ cùng chiều phía trước, làm ông Đ và Tr cùng ngã ra đường. Sau đó Tr đứng dậy và dựng xe mô tô lên, chưa kịp xem tình trạng của ông Đ thì thấy có người từ nhà ông Kh chạy ra khiến Tr hoảng sợ và nghĩ ông Đ chỉ bị thương nhẹ nên Tr đã điều khiển xe đi vào trang trại ở xã ĐD, huyện TK. Đến sáng ngày 05/02/2023, Tr đã tự giác đến Công an huyện Quảng Hoà trình báo và khai nhận toàn bộ sự việc. Do thương tích nặng ông Đ phải đi cấp cứu tại nhiều Bệnh viện, hiện tại ông Đ vẫn trong tình trạng hôn mê sâu và đang điều trị tại nhà.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hoà đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, khám nghiệm phương tiện, xem xét dấu vết còn để lại trên phương tiện có liên quan và trưng cầu giám định thương tích.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 20 giờ 00 ngày 04/02/2023, thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cua từ phải sang trái, hướng từ thị trấn Quảng Uyên đi huyện Trùng Khánh, đoạn đường có dải phân cách mềm dạng nét đứt. Lấy mép đường bên phải làm chuẩn, chọn mép cổng bên trái nhà ông Chu Viết Kh là điểm mốc, ký hiệu là A. Tiến hành đo đạc hiện trường, các vị trí lần lượt như sau:

- V1 là đám dung dịch màu đỏ nghi là máu và các mảnh nhựa vỡ, trên diện kích thước (0,6 x 0,7)m nằm trên lòng đường bên phải. Tâm V1 cách mép đường bên phải 1,8m, cách tâm V2 1,1m, cách A 5,1m.

- V2 là là đám dung dịch màu đỏ nghi là máu, trên diện kích thước (0,45 x 0,17)m nằm trên lòng đường bên phải. Tâm V2 cách mép đường bên phải 0,7m, cách A 4,65m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ 02 (hai) mảnh nhựa vỡ tại vị trí V1.

Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện hồi 09 giờ 00 ngày 23/02/2023, đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88 của Vy Vĩnh Tr, thể hiện: Phần vỏ nhựa của xe mô tô có nhiều vết nứt, vỡ rời khỏi vị trí ban đầu. Tiến hành kiểm tra 02 (hai) mảnh nhựa màu đen thu giữ tại vị trí V1 thì có 01 (một) mảnh trùng khớp với vị trí ốp bảo vệ phía sau cụm đèn pha của xe mô tô.

Ngày 14/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Hòa, Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 30 đề nghị Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Nông Văn Đoàn.

Ngày 18/4/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Cao Bằng có Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 037/KLTTCT-TTPY, kết luận:

1. Các kết quả chính:

* Kết quả khám giám định:

- Tổn thương não sau chấn thương gây di chứng sống kiểu thực vật (hôn mê sâu): 99%.

- Khuyết xương sọ đáy chắc vùng trán thái dương đỉnh phải: 31%.

- 03 vết sẹo vùng đầu, tay phải và vết mổ vùng cổ, kích thước trung bình: 08%.

* Kết quả cận lâm sàng: Vỡ xương đỉnh trái: 08%.

2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nông Văn Đoàn tại thời điểm giám định là 99% (chín mươi chín phần trăm).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 02 mảnh nhựa vỡ thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Vy Vĩnh Tr.

Bản cáo trạng số 43/CT-VKSQH ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Vy Vĩnh Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.

Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Nông Thị Hương Nh yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình với số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) ngoài số tiền mà bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả trước đây là 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng) và sẽ không yêu cầu bồi thường thêm bất kỳ khoản nào, ông Đ có bị sao thì gia đình tự chăm sóc, lo liệu mọi chi phí. Đồng thời gia đình bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Vy Vĩnh Tr nhất trí bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) ngoài số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng) trước đây gia đình đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả và đề nghị gia đình bị hại sẽ không được yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vy Vĩnh Tr và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền đối với bị cáo Vy Vĩnh Tr từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách nhà nước.

Về vật chứng của vụ án:

Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Vy Vĩnh Tr là giấy tờ cá nhân.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu video ghi nhận liên quan vụ tai nạn giao thông, được trích xuất từ camera của nhà anh Dương Đức Ngọc.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 02 hình ảnh sau khi xảy ra tai nạn giao thông ngày 04/02/2023 do anh Lưu Chí B giao nộp.

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mảnh nhựa vỡ thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88 do không có giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ lỗi và trách nhiệm của bản thân và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lục Thị L nhưng đã có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu gì thêm theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt.

. Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Vy Vĩnh Tr phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, lời khai người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; biên bản thực nghiệm điều tra và kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống.

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chứng minh: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 04/02/2023, Vy Vĩnh Tr điều khiển xe mô tô BKS: 11U1-023.88 từ nhà tại xóm P, xã NĐ, Quảng Hoà, Cao Bằng đến đoạn đường km2 + 290, tỉnh lộ 206 thuộc địa phận xóm Pác Cam, thị trấn Quảng Uyên, Quảng Hoà trong điều kiện trời mưa, tầm nhìn bị hạn chế và bị ánh sáng chói mắt không nhìn rõ đường nên đã đi vào mép đường bên phải va quệt vào xe mô tô BKS: 11U1 – 118.42 dựng ở mép đường và tiếp tục lao đi đâm vào ông Nông Văn Đ đang đi bộ cùng chiều phía trước. Do Tr điều khiển xe mô tô không tuân thủ các quy định về giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, đi không đúng phần đường quy định, vi phạm quy định an toàn về giao thông đường bộ theo khoản 23 Điều 8 “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định …” nên đã gây tai nạn làm ông Đ bị thương nặng với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 99% (chín mươi chín phần trăm). Ngày 05/02/2023, Vy Vĩnh Tr đã đến Công an huyện Quảng Hoà trình báo và khai nhận toàn bộ sự việc. Nên có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Vy Vĩnh Tr phạm tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số 43/CT-VKSQH ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Vy Vĩnh Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến sức khoẻ của người khác, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe theo quy định nhưng khi tham gia giao thông đã không tuân thủ đúng quy định dẫn đến hậu quả bị hại ông Nông Văn Đoàn bị thương tích với tổng tỷ lệ thương tật là 99%. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình đã gây ra.

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã kịp thời bồi thường thiệt hại khắc phục một phần hậu quả với số tiền 180.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại thỏa thuận thống nhất bồi thường thêm số tiền 300.000.000 đồng cho bị hại, đồng thời người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Tình tiết tăng nặng: Không có.

. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, có nghề nghiệp (hiện đang là công nhân Công ty X Cao Bằng), có thu nhập đảm bảo cho việc bồi thường và thi hành án. Xét thấy, đây là tội thuộc nhóm tội vi phạm an toàn trật tự công cộng, lỗi vô ý. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn đảm bảo sự răn đe, giáo dục bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét kỹ lưỡng vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo sớm sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, tu dưỡng thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại Nông Văn Đoàn là chị Nông Thị Hương Nh đề nghị bị cáo Tr bồi thường thêm cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), ngoài số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng) đã hỗ trợ trước đây và gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm, bị cáo đồng ý bồi thường thêm số tiền 300.000.000 đồng cho bị hại. Xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận trong bản án.

. Việc xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Vy Vĩnh Tr là giấy tờ cá nhân cần trả lại cho bị cáo.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu video ghi nhận liên quan vụ tai nạn giao thông, được trích xuất từ camera của nhà anh Dương Đức Ng.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 02 hình ảnh sau khi xảy ra tai nạn giao thông ngày 04/02/2023 do anh Lưu Chí B giao nộp.

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mảnh nhựa vỡ thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88 do không có giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88.

. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo thuộc trường hợp đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vy Vĩnh Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Vy Vĩnh Tr số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 590 và Điều 601 của Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa. Bị cáo Vy Vĩnh Tr có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại Nông Văn Đ (do chị Nông Thị Hương Nh đại diện hợp pháp theo ủy quyền) số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Vy Vĩnh Tr 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Vy Vĩnh Tr.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ dữ liệu video ghi nhận liên quan vụ tai nạn giao thông, được trích xuất từ camera của nhà anh Dương Đức Ng.

Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 02 hình ảnh sau khi xảy ra tai nạn giao thông ngày 04/02/2023 do anh Lưu Chí B giao nộp.

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mảnh nhựa vỡ thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn của xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88 do không có giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave α, màu sơn đen bạc, BKS: 11U1 – 023.88, xe đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhẹ do tai nạn.

(Xác nhận vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 15 giờ ngày 14 tháng 9 năm 2023).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vy Vĩnh Tr được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ