- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo B N C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HS-ST Ngày 20/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Viên Đức
2. Bà Quách Thị Bích Ngà
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
B N C (tên gọi khác: Chí Bói, Tỷ, Trí); sinh ngày 28/8/1975, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: x Hàn Hải Nguyên, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: xxx Hòa Bình, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông B V B (chết) và bà V T T (V Q T); bị cáo có vợ tên là L T K A, có một người con sinh năm 2014; tiền án: Ngày 09/9/1997 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 1630/HSST ngày 09/9/1997. Chấp hành án đến ngày 14/01/1998. Ngày 29/10/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về hành vi “Cướp giật tài sản” theo bản án số 174/HSST ngày 29/10/1999. Ngày 16/3/2000 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 14 năm tù về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 1128/HSST ngày 16/3/2000. Tổng hợp bản án số 174/HSST bị cáo phải chấp hành 17 năm tù. Chấp hành án đến ngày 20/12/2012. Ngày 18/6/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 08 năm 06 tháng tù về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 44/2015/HS-ST ngày 18/6/2015. Chấp hành án đến ngày 16/10/2021; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông N N H, sinh năm 1977; nơi cư trú: xx Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông T K K, sinh năm 1999; nơi cư trú: xx Bến Bình Đông, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/01/2023 tổ tuần tra 363 Công an Quận 11 phát hiện đối tượng B N C và đối tượng N N H đang ở tại hiệu cầm đồ số 636 Hồng Bàng, Phường 16, Quận 11 có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Lúc này đối tượng C lấy từ trong túi quần trước bên phải ra 01 gói thuốc lá hiệu Jet ném xuống ghế chỗ nhân viên đang ngồi thì bị công an phát hiện, thu giữ. Công an tiến hành kiểm tra bên trong gói thuốc lá có 01 gói nylon chứa tinh thể nghi là ma túy nên đã tạm giữ đối tượng C và đưa về trụ sở Công an Phường 16, Quận 11 và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B N C.
Công an phối hợp với cơ sở y tế tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với đối tượng B N C và đối tượng N N H. Kết quả cả hai đối tượng C và Hà dương tính với ma túy loại Amphetamine và Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số: 938/KL-KTHS, ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên B N C và hình dấu Công an Phường 16, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 1,8458g.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, bị can B N C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Về nguồn gốc số ma túy, bị can C khai mua của một người đàn ông tên Hải (không rõ lai lịch) ở dưới chân cầu Chà Và, Quận 5 với số tiền 700.000 đồng vào trưa ngày 28/01/2023 mục đích để sử dụng. Bị can C biết người này bán ma túy thông qua bạn bè ngoài xã hội giới thiệu, khi cần mua ma túy sẽ đến dưới chân cầu Chà Và, Quận 5 để mua. Đây là lần đầu bị can C mua ma túy của người đàn ông này nên bị can C không biết rõ nhân thân, lai lịch của người đã bán ma túy cho mình. Bị can C xác định nơi mua ma túy là tại trước nhà số 49 Vạn Kiếp, Phường 13, Quận 5. Đối với đối tượng tên Hải (không rõ lai lịch) là người đã bán ma túy cho bị can C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành xác minh nhưng chưa phát hiện; khi nào xác minh làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.
Tại thời điểm bị bắt quả tang, đối tượng Hà không biết việc bị can C đang cất giữ ma túy trong người và cả 02 cũng không sử dụng ma túy cùng nhau.
Vật chứng thu giữ:
- Một gói niêm phong có chữ ký Giám định viên ghi vụ số 983, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
- Một vỏ gói thuốc lá hiệu Jet. Đây là dụng cụ do bị can C sử dụng để chứa ma túy.
- Một điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của bị can C.
- Một xe mô tô hai bánh hiệu Future Neo màu trắng đen, biển số 59S2-191.90. Qua xác minh đã xác định được chủ sở hữu chiếc xe trên là ông T K K (tên gọi khác: Hùng). Qua làm việc, ông K cho biết có mua và sử dụng chiếc xe trên vào tháng 10/2022. Trước Tết Nguyên Đán năm 2023, bị can C có đến tiệm xăm của ông K chơi và hỏi mượn xe để đi lại, do cả hai quen biết nhau nên ông K đã cho bị can C mượn xe sử dụng. Việc bị can C sử dụng xe đi đâu, làm gì thì ông K hoàn toàn không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chủ sở hữu là ông K.
Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKSQ11 ngày 21/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can B N C tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo B N C có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Quận 11 và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông N N H và ông T K K vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong là ma túy còn lại sau giám định và một vỏ gói thuốc lá hiệu Jet.
- Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng qua sử dụng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 29/01/2023, tại nhà số 636 Hồng Bàng, Phường 16, Quận 11, bị cáo B N C đã có hành vi cất giữ ma túy loại Methamphetamine với khối lượng là 1,8458g.
Bị cáo B N C khai nhận bản thân nghiện ma túy và cất giữ ma túy để sử dụng. Lời khai này phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo do Bệnh viện Quận 11 thực hiện vào ngày 29/01/2023.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo có bốn tiền án, đã tái phạm, tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có bốn tiền án và không có tiền sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng là một gói niêm phong ghi vụ số 983, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng là một vỏ gói thuốc lá hiệu Jet là dụng cụ bị cáo dùng để chứa đựng ma túy; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo B N C, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông tên Hải là người đã bán ma túy cho bị cáo C, do không xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.
Đối với đối tượng N N H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận 11 đã ra quyết định về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy Bình Triệu.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo B N C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo B N C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/01/2023.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 55/LNK-MT ngày 25/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Tịch thu, tiêu hủy một vỏ gói thuốc lá hiệu Jet (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 17/LNK-MT ngày 06/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Trả lại cho bị cáo B N C một điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng qua sử dụng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 17/LNK-MT ngày 06/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |