- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn Thư - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lô Văn T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41 /2023/HS-ST Ngày 22/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Phan Bá Lịch.
Ông: Vi Văn Duẩn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 24/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lô Văn T – Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987 tại huyện Q C, tỉnh N A.
Nơi cư trú: bản Đ T, xã C H, huyện Q C, tỉnh N A; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 02; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lô Văn V (Đã chết) và bà Hoàng Thị H; Vợ: Hà Thị T, con: 03 người; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/5/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 15/11/2013; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023 đến nay.
Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An – Chi nhánh số 2.
có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 ngày 03/3/2023 bị cáo Lô Văn T đi bộ từ nhà đến khu vực Trung tâm y tế huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến cổng Trung tâm y tế huyện Quỳ Châu bị cáo gặp một người đàn ông bị cáo không biết tên, địa chỉ và hỏi mua ma túy với người đàn ông đó và được người đó bán cho một gói ma túy (Hê rô in) với số tiền là 500.000,đ. Sau khi mua được ma túy bị cáo bỏ gói ma túy vào trong túi áo đang mặc và đi về. Khoảng 10 giờ cùng ngày khi bị cáo về đến khu vực Khối 4, thị trấn Tân Lạc, huyện Quỳ Châu thì bị Công an thị trấn Tân Lạc yêu cầu kiểm tra hành chính, thấy vậy bị cáo đã lấy gói ma túy trong túi áo vứt xuống đường nhưng đã bị phát hiện và bắt giữ. Công an thị trấn Tân Lạc đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng và bàn giao bị cáo cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Châu để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận: 01 gói chứa chất rắn màu trắng mà bị Công an thị trấn Tân Lạc thu giữ là ma túy Hê rô in do bị cáo mua để nhằm mục đích sử dụng.
Tại kết luận giám định số 301/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T gửi tới giám định là ma túy (Hê rô in). Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T có khối lượng là 0,135 gam.
Cáo trạng số 43/CT-VKS - QC, ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố Lô văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
-Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lô Văn T từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy Mảnh giấy màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lô Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ đối với bị cáo bởi: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp nên hạn chế nhận thức về pháp luật dẫn đến bị cáo nghiện chất ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân không vì mục đích lợi nhuận, khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ ở mức khởi điểm của khug ình phạt, điều kiện kinh tế của gia đình bị cáo khó khăn. Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lô Văn T 01 (một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Về hình phạt bổ sung, bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn . Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án và án phí nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
-Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không tranh luận và xin được giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo cải tạo tốt và sớm được trở về với cộng đồng, với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên thu thập, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ai có khiếu nại về hành vi tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và kiểm sát viên.
Về nội dung:
- Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, trưa ngày 03/3/2023 bị cáo đến khu vực trước cổng Trung tâm y tế huyện Quỳ Châu để tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người đàn ông , bị cáo không biết họ tên, địa chỉ, thấy giống người nghiện nên bị cáo đã hỏi mua ma túy với người đàn ông đó và được người đó bán cho 01 gói ma túy hê rô in với số tiền là 500.000,đ. Sau khi mua được bị cáo bỏ gói ma túy vào trong túi áo bên phải đang mặc và đi về, khi ra đến Quốc lộ 48 thì bị Công an thị trấn Tân Lạc yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã lấy gói ma túy mới mua được vứt xuống đường nhưng đã bị phát hiện và bắt giữ.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá tình điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được. Tại kết luận giám định số 301/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 10/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T gửi tới giám định là ma túy (Hê rô in). Số chất rắn màu trắng thu giữ của Lô Văn T có khối lượng là 0,135 gam. Bị cáo mua ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo tàng trữ khối lượng chất ma túy 0,135 gam, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi ph¹m téi cña bÞ c¸o là nghiªm träng, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy biết rõ về tác hại của việc sử dụng ma túy đối với sức khỏe con ng êi, làm băng hoại đạo đức xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Nhân thân: Ngày 30/5/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 15/11/2013, tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này đã được xóa án tích. Mặc dù đã được cải tạo, giáo dục ở trại giam, sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, thiếu tu dưỡng, rèn luyện dẫn đến bị cáo nghiện chất ma túy. Do đó cần thiết xét xử nghiêm đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người sống có ích cho xã hội và để bị cáo có điều kiện cai nghiện từ bỏ việc sử dụng chất ma túy.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có ông nội là người có công với nhà nước được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Đối với hành vi của người bán ma túy cho bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Vật chứng vụ án: Hê rô in thu giữ của bị cáo có khối lượng 0.135 gam gam, quá trình điều tra đã trích lấy mẫu giám định hết, còn lại mảnh giấy trắng và vỏ bao niêm phong cũ. Đây là vật không có giá trị sử dụng. Do đó tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 50, điều 38 của Bộ luật hình sự .
2. Xử phạt: Lô Văn T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/3/2023.
3. Vật chứng vụ án: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy mảnh giấy trắng và vỏ bao niêm phong cũ. Chi tiết các vật chứng được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu lập ngày 24/5/2023.
4. Án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lô văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu; - Phòng KTNV-TAND tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lô Xuân Diệu |