- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Xuân Tuấn - vi phạm quy định tham gia GTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ điều luật và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2023/HS-ST Ngày 26 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Trứ;
2. Ông Nguyễn Xuân Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phùng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Xuân T; sinh năm: 1990; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn MT, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Đặng Xuân L, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Hoàng Thị Th, sinh năm 1965; Vợ: Lê Thị Đ, sinh năm 1993; bị cáo có 02 con: con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Đồng Văn Ng, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang (Đã chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Chị Đồng Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Đồng Văn B, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Đồng Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Đồng Thị Th, sinh năm 1988; địa chỉ: Xã Tân H, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Chị Đồng Thị V, sinh năm 1992; địa chỉ: L, thị trấn B, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền cho chị N, chị V, chị Th và chị L là: anh Đồng Văn B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (Anh Bình có mặt tại phiên tòa).
* Ngƣời làm chứng:
- Ông Trần Quang L, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Hiệp Hòa - Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/02/2023, Đỗ Xuân T, sinh năm 1990 ở thôn MT, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang (có giấy phép lái xe ô tô hạng C), điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C- 280.89 đi trên đường tỉnh lộ 295 theo hướng cầu Đông Xuyên đi thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để đổ dầu xe. Khi đến cây xăng dầu Hương Lâm, thuộc Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, Tuấn điều khiển xe ô tô chuyển hướng bên trái để vào cây xăng dầu để mua dầu, do không chú ý quan sát nên xe ô tô do Tuấn điều khiển đã đâm vào ông Đồng Văn Ngưỡng, sinh năm 1956 ở Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang đi bộ ở rìa đường hướng thị trấn Thắng đi cầu Đông Xuyên, huyện Hiệp Hòa làm ông Ngưỡng bị ngã xuống đường, bánh xe ô tô phía trước bên trái đè qua người ông Ngưỡng. Khi phát hiện xe ô tô đâm vào ông Ngưỡng, người dân đã hô hoán, Tuấn không biết việc va chạm khiến ông Ngưỡng nằm dưới gầm xe nên đã tiếp tục lùi xe ô tô khiến bánh trước bên trái đè qua người ông Ngưỡng. Hậu quả, ông Ngưỡng bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đến chiều cùng ngày thì tử vong.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường, khám phương tiện, khám nghiệm tử thi.
Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng, dựng lại hiện trƣờng:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn tại Km 63+300m, đường tỉnh 295 thuộc địa phận Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (trước cửa hàng xăng dầu Hương Lâm). Mặt đường rộng 8,65m, lề đường bên trái hướng thị trấn Thắng đi cầu Đông Xuyên rộng 1,6m. Tiếp giáp với mép đường bên phải hướng thị trấn Thắng đi cầu Đông Xuyên là mặt cống thoát nước được đổ bê tông rộng 1,05m. Tiếp giáp với mặt cống thoát nước là Cửa hàng xăng dầu Hương Lâm có chiều rộng 8,2m. Lấy cột điện số (2.7)/TBA Đông Lâm 2 làm mốc định vị hiện trường; lấy hướng thị trấn Thắng đi cầu Đông Xuyên để xác định bên phải (P), bên trái (T) trong mô tả hiện trường; lấy mép đường bên phải làm chuẩn.
Xe ô tô biển kiểm soát 98C- 280.89 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng cửa hàng xăng dầu Hương Lâm, tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường phải 0,5m, tâm trục bánh trước bên trái trùng với mép đường phải, cách cột điện ký hiệu 2.7/TBA Đông Lâm 2 là 13,5m.
Dấu vết mài trượt màu đen trên mặt cống thoát nước (dấu vết mài mòn cao su) kích thước (0,30 x 0,35)m, chiều hướng cây xăng Hương Lâm ra mép đường, điểm đầu vết cách mép đường phải 0,72m, điểm cuối vết cách mép đường phải là 0,37m, cách trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 98C - 280.89 là 1.16m.
Dấu vết mài trượt màu đen trên mặt cống thoát nước (dấu vết mài mòn cao su) kích thước (0,3 x 0,3)m, chiều hướng cây xăng Hương Lâm ra mép đường, điểm đầu vết cách mép đường phải 0,7m , điểm cuối vết cách mép đường phải là 0,4m, cách trục bánh trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 98C - 280.89 là 0,42m.
Khoảng cách từ đầu trục bánh trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 98C - 280.89, đầu trục bánh sau bên trái xe ô tô biển kiểm soát 98C - 280.89 đến cột điện ký hiệu 2.7/TBA Đông Lâm 2 lần lượt là 13,5m và 15,85m (bút lục 39- 55).
Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện xe ô tô biển kiểm soát 98C-280.89:
Mặt dưới, bên trái thanh chuyền chuyển động cách mặt đất 36cm có dấu vết mài chùi sạch bụi đất trên diện (51x2)cm. Mặt trước, dưới của khung viền lưới tản nhiệt cách mặt đất 35cm có dấu vết mài chùi sạch bụi đất trên diện (22x4)cm. Mặt trước, dưới trục trước tại vị trí cách mặt đất 25cm có dấu vết mài chùi sạch bụi đất, kích thước (60x6)cm. Mặt trước dưới bên trái cản trước (tương ứng với mép bên trái biển kiểm soát) có dấu vết mài trượt sạch bụi đất in hằn các đường thẳng song song dạng vân vải trên diện (14x6,3)cm, điểm gần nhất cách mép ngoài cùng bên trái cản trước 40cm, cách đất 48cm. Mặt trước cụm chi tiết cố định thước lái (dưới gầm đầu xe) có dấu vết mài trượt sạch bụi đất tạo thành các đường song song dạng vân vải trên diện (6,6x3,6)cm, điểm thấp nhất cách đất 39cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống xi nhan, đèn chiếu sáng, còi, hệ thống phanh, gương chiếu hậu, hệ thống điều khiển còn hiệu lực (bút lục 56- 65).
Bản Kết luận giám định số 586/KL-KTHS ngày 02/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“Dấu vết mài trượt sơn, kim loại, sạch bụi đất, in hằn các đường song song (dạng vân vải) ở mặt ngoài bên trái cản trước, cụm chi tiết cố định thước lái và khung viền lưới tản nhiệt dưới gầm của xe ô tô biển kiểm soát 98C-280,89 (ảnh 8, 9, 14, 15 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể nạn nhân Ngưỡng mặc quần áo) tạo nên. Không xác định được vị trí va chạm trên mặt đường;
- Dấu vết mài trượt màu đen trên mặt cống thoát nước (dấu vết mài mòn cao su), ký hiệu số 2 và số 3 được hình thành do vật tày có bề mặt màu đen (dạng cao su như lốp bánh xe ô tô) mài trượt trên bề mặt cống thoát nước tạo nên. Không đủ căn cứ xác định 02 (hai) dấu vết trên là do phương tiện nào để lại trên hiện trường;
- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C-280.89 với phương tiện khác;
- Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 98C- 280.89 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học” (bút lục 83- 84).
Khám nghiệm tử thi ông Đồng Văn Ngƣỡng:
Vùng đuôi mắt phải có diện sây sát da nông, bề mặt đã khô, kích thước (03x1,5)cm; Vùng thái dương, mặt sau tai, cổ trái có diện sưng nề, bầm tím da, kích thước (15x08)cm; Vùng ngực hai bên có nhiều vết bầm tím da trên diện (25x06)cm; Mặt mu các ngón tay bàn tay trái có nhiều vết sây sát da trên diện (07x04)cm; Mặt sau trong gối phải có diện sưng nề, bầm tím, sây sát da, kích thước (14x08)cm; Mặt mu bàn chân, mu ngón I bàn chân phải có diện bầm tím, sây sát da, kích thước (11x07)cm; Mặt trước, sau trong gối trái có diện sưng nề, bầm tím, sây sát da nông kích thước (15x14)cm; Mắt cá trong chân trái có diện sây sát da, kích thước (04x02)cm. Khám trong: Thăm dò kiểm tra khoang lồng ngực, khoang ổ bụng bằng bơm kim tiêm không thấy máu; Phẫu tích kiểm tra qua diện sưng nề, bầm tím vùng thái dương trái thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da, cơ. Đường vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái, phần đo được dài 2,5cm, qua đường vỡ có nhiều máu không đông chảy ra. Thu mẫu máu của tử thi (bút lục 67-76).
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 277/KL-KTHS ngày 20/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Nguyên nhân chết của Đồng Văn Ngưỡng do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái; Cơ chế hình thành dấu vết, thương tích trên cơ thể Đồng Văn Ngưỡng: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên; Tổn thương vỡ xương hộp sọ vùng thái dương trái do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên là nguyên nhân dẫn tới tử vong của Đồng Văn Ngưỡng” (bút lục 77- 78).
Ngày 17/02/2023, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang có phiếu kết quả xét nghiệm, xác định nồng độ cồn trong máu ông Đồng Văn Ngưỡng là 52.0mg/dL (Bút lục 89- 93).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã thu giữ 01 đoạn video được trích xuất từ camera giám sát của cây xăng dầu Hương Lâm do ông Trần Quang Lan, sinh năm 1963 ở thôn Phúc Ninh, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là nhân viên tại Cây xăng dầu Hương Lâm giao nộp, có chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông (bút lục 103- 104). Cơ quan điều tra đã lấy lời khai ông Lan, cho bị cáo Tuấn xem đoạn video, kết quả thể hiện: Thời gian thể hiện trong video xuất hiện ông Ngưỡng đi bộ là 09 giờ 45 phút 45 giây, nhanh hơn thời gian thực tế khoảng 01 giờ đồng hồ; Thời gian xe ô tô biển kiểm soát 98C- 280.89 rẽ vào cây xăng dầu đâm vào ông Ngưỡng là 09 giờ 45 phút 52 giây ngày 14/2/2023. Sau khi xe ô tô đâm vào ông Ngưỡng xe lùi lại bánh xe phía trước bên trái xe ô tô chèn qua người ông Ngưỡng (bút lục 114-116, 130).
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Đỗ Xuân T đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng. Nay đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi gì thêm về trách nhiệm dân sự. Đại diện bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
* Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C - 280.89 xác định là tài sản của Đỗ Xuân T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã xử lý vật chứng trả lại xe ô tô và các giấy tờ liên quan đến xe cho Đỗ Xuân T.
Cơ quan điều tra đang tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng C, số 270237001589 mang tên Đỗ Xuân T để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đỗ Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-HH ngày 27 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Đỗ Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Do các bên đã thống nhất thỏa thuận xong về bồi thường trách nhiệm dân sự nên đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Đỗ Xuân T 01 giấy phép lái xe hạng C, số 270237001589 mang tên Đỗ Xuân T
4. Về án phí: Bị cáo Tuấn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/02/2023, Đỗ Xuân T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-280.89 đi trên đường tỉnh lộ 295 theo hướng cầu Đông Xuyên đi thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa để mua xăng dầu. Khi đi đến đến đoạn đường thuộc địa phận Thôn Đ, xã H, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Đỗ Xuân T điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái, do không chú ý quan sát nên xe ô tô Tuấn điều khiển đã đâm vào ông Đồng Văn Ngưỡng đang đi bộ ở rìa đường làm ông Ngưỡng bị ngã xuống đường, bánh xe ô tô phía trước bên trái đè qua người ông Ngưỡng. Hậu quả, ông Ngưỡng bị thương nặng được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, đến chiều cùng ngày thì tử vong.
Hành vi điều khiển xe ô tô của Đỗ Xuân T không chú ý quan sát đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi vi phạm các quy định khi tham gia giao thông của bị cáo Tuấn làm chết 1 người, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tai nạn giao thông hiện nay đang là một vấn nạn nhức nhối của toàn xã hội, nhiều người đã bị thiệt hại về tính mạng hoặc mang thương tật suất đời vì tai nạn giao thông. Trong khi các cấp, các ngành và toàn xã hội vẫn đang nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, kiềm chế tai nạn giao thông thì bị cáo là người trưởng thành, đã qua đào tạo và được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép lái xe hạng C, nhưng do thiếu chú ý quan sát nên không kịp xử lý đã gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự.
Xét về mức độ lỗi thì thấy: Bị cáo là người có giấy phép lái xe theo quy định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng điều khiển xe ô tô tham gia giao thông thiếu quan sát, không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông. Do vậy, xác định lỗi dẫn đến hậu quả nghiêm trọng của vụ tai nạn làm người bị hại tử vong là hoàn toàn do bị cáo.
Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Ngay sau xảy ra tai nạn, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình gây ra cho người bị hại, điều này được thể hiện qua một số các hành vi cụ thể như: Bị cáo đã kịp thời dừng và xuống xe tìm cách cứu chữa cho bị hại, nhờ người đưa bị hại đi cấp cứu tại bệnh viện kịp thời, sau đó bị cáo ra đầu thú và đã phối hợp với cơ quan điều tra để làm rõ, khai báo thành khẩn mọi hành vi phạm tội, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của mình; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đến nay đại diện bị hại không còn thắc mắc, yêu cầu gì về bồi thường dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Mặc dù hậu quả của hành vi phạm tội là nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý, bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, chưa cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để bị cáo lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 160.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác. Xét thấy sự thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C - 280.89 là tài sản của bị cáo Tuấn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã xử lý vật chứng trả lại xe ô tô và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô cho bị cáo Tuấn là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C, số 270237001589 mang tên Đỗ Xuân T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Tuấn.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ điều luật và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: bị cáo Đỗ Xuân T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại bị cáo Tuấn 01 giấy phép lái xe hạng C, số 270237001589 mang tên Đỗ Xuân T.
(Đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS-HH ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2023 giữa Công an huyện Hiệp Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Tuấn phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND huyện Hiệp Hòa; - Công an huyện Hiệp Hòa; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa; - UBND xã Đ, H.Hiệp Hòa; - Bị cáo; đại diện bị hại; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Văn Hải |